ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Style5

Style5

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại

Xe tăng ra đời trong Thế chiến I và nhanh chóng trở thành loại vũ khí chủ lực trên chiến trường trong chiến tranh hiện đại.

Mark IV của Anh


Xe tăng Mark IV của Anh.
Sự ra đời của xe tăng Mark IV tạo ra cuộc cách mạng trên chiến trường nhờ khả năng hoạt động ưu việt của động cơ cùng hỏa lực mạnh. Mark IV thừa hưởng mọi thành tựu của quá trình nghiên cứu và phát triển xe tăng của Anh trong Thế chiến I. 
Mark I là cỗ xe tăng đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, nó hoạt động kém và thường xuyên hỏng. Anh tiếp tục phát triển những chiếc Mark II và III nhưng chúng cũng không thực sự tạo dấu ấn. Cuối cùng, nhà sản xuất cải tiến động cơ và hệ thống truyền lực, giúp Mark IV trở thành vũ khí hiệu quả trên các chiến trường.
Mark IV có khối lượng 29 tấn, chiều dài 4,12 m, có khả năng chở 8 người. Chúng di chuyển với vận tốc 6,4 km/h trong phạm vi 56 km. Hệ thống súng máy gắn trên thân giúp kíp chiến đấu đáp trả và tấn công mục tiêu, tạo ra lợi thế lớn cho quân đội Anh trong Thế chiến I. Anh chế tạo 1.220 xe tăng loại này từ tháng 5/1917 tới cuối năm 1918.
Panzer II của Đức
Đây là tên thường gọi của loại xe tăng hạng nhẹ Panzerkampfwagen II mà Phát xít Đức sử dụng trong Thế chiến thứ II. Chúng ra đời nhằm lấp chỗ trống khi Đức đang tập trung phát triển loại xe tăng hiện đại và tối tân hơn nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân đồng minh. Tuy nhiên, Panzer II chứng minh hiệu quả trong tác chiến và mang lại cho quân Đức rất nhiều lợi thế.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Xe tăng hạng nhẹ Panzer II của Đức.
Trong cuối những năm 1930, đầu những năm 1940, Panzer II liên tục tham chiến ở Ba Lan, Pháp, Bắc Phi và vùng Đông Âu gần Xô Viết và giành nhiều thắng lợi quan trọng cho quân Đức. Dù là xe tăng hạng nhẹ với tải trọng 8,9 tấn nhưng Panzer II nhiều lần đóng vai trò chủ lực trong các trận chiến với quân đồng minh. Phát xít Đức chế tạo 1.850 xe tăng loại này trong giai đoạn 1935 đến 1943.
Panzer II chính thức bị loại khỏi biên chế chiến đấu của quân đội Đức năm 1942. Sau đó, nó trở thành xe tăng trinh sát và tiếp tục chứng minh khả năng vượt trội. Cuối cùng, người ta sử dụng Panzer II để đào tạo tân binh. Đức ngừng chế tạo Panzer II trong năm 1943 nhưng khung gầm của nó tiếp tục được sản xuất để làm nền tảng cho pháo tự hành Wespe hay tăng pháo Marder II.
Xe tăng T-34 của Liên Xô
T-34 là xe tăng hạng trung của quân đội Liên Xô, chính thức được sản xuất trong từ năm 1940. Người ta sử dụng T-34 trong cuộc chiến chống lại quân đội phát xít Đức và giành nhiều thắng lợi quan trọng. Sau đó, T-34 tiếp tục chứng minh hiệu quả trong Chiến tranh Triều Tiên và Cách mạng Hungary năm 1956, các cuộc xung đột ở Trung Đông và châu Phi, cuộc chiến chống Mỹ tại Việt Nam và Chiến tranh Bosnia.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Xe tăng T-34 của Liên Xô.
Sự ra đời của T-34 là cuộc cách mạng trong thiết kế và chế tạo xe tăng toàn cầu. Nó là loại xe tăng hiệu quả và gây ảnh hưởng nhất Thế chiến II dù nhiều mẫu xe tăng vượt trội hơn T-34 về giáp và hỏa lực. T-34 là sự kết hợp tối ưu giữa khả năng bảo vệ, tính cơ động, sức mạnh hỏa lực và độ tin cậy. Liên Xô chế tạo 84.000 chiếc xe tăng loại này.
Vũ khí chính của T-34 là pháo F-34 cỡ nòng 76,2 mm. Hai vũ khí phụ là đại liên cỡ nòng 7,62 mm. Động cơ 500 mã lực cho phép T-34 di chuyển với vận tốc 53 km/h cùng phạm vi hoạt động 400 km. Ở thời điểm hiện tại, T-34 là loại xe tăng được sử dụng lâu nhất thế giới. Một vài mẫu T-34 vẫn đang được sử dụng.
M4 Sherman của Mỹ
M4 Sherman là xe tăng nổi tiếng nhất của quân đội Mỹ, ra đời trong Thế chiến II. Nó có hỏa lực mạnh, tốc độ nhanh và độ tin cậy cao trong khi chi phí sản xuất thấp và ngắn. Trong các trận chiến với quân Đức, M4 thường giành lợi thế trên chiến trường. Nó cũng hiện diện trong nội chiến Hy Lạp, chiến tranh Ả Rập - Do Thái, Ấn Độ - Pakistan, Ả Rập - Israel và Yom Kippur.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Tăng M4 Sherman của Mỹ. 
Sự ra đời của M4 Sherman giúp quân đồng minh giành lại lợi thế trên chiến trường trước quân đội Đức. M4 đóng vai trò tích cực trong trận chiến Normandy vào mùa hè năm 1944 trước khi nó lăn xích trên toàn nước Pháp. M4 Sherman liên tục đánh bại những chiếc Tiger và Panther của phát xít Đức.
M4 Sherman có chiều dài 5,84 m, rộng 2,62 m, cao 2,74 m và nặng 30,3 tấn. Nó có khả năng di chuyển với vận tốc 38,5 km/h với phạm vi 200 km. Vũ khí chính của M4 Sherman là pháo cỡ nòng 75 mm cùng hai súng phụ. Quân đội Mỹ chế tạo hơn 50.000 chiếc M4 Sherman trong khi khung sườn của nó được dùng cho các loại xe bọc thép, xe kéo pháo…


Hồng Duy
Ảnh: Wikipedia

10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 3)

Trong một trận bao vây thuộc Chiến tranh Triều Tiên, thủy quân lục chiến Mỹ yêu cầu chi viện đạn pháo, nhưng lực lượng hậu cần thả kẹo xuống trận địa vì hiểu nhầm mật mã.

Một binh sĩ chiến đấu cho ba quân đội

Vào năm 1938, Yang Kyoung Jong, một thanh niên Triều Tiên 18 tuổi, buộc phải gia nhập quân đội Nhật Bản để chống quân Liên Xô. Một năm sau, trong trận chiến Khalkhin-Gol, Hồng quân bắt Yang và đưa anh tới một trại lao động. Tới năm 1942, khi cuộc chiến giữa phát xít Đức và Liên Xô diễn ra vô cùng ác liệt, Hồng quân quyết định động viên cả những tù binh chiến tranh vào lực lượng của họ để chống Đức. Do đó Yang trở thành một binh sĩ Hồng quân.

Ảnh minh họa: Listverse
Quân Đức bắt Yang trong trận đánh Kharkov vào năm 1943. Lúc này họ cũng đang sa lầy trong cuộc chiến tại Nga và rất cần lực lượng bổ sung cho chiến trường. Vì thế họ buộc anh khoác quân phục Đức. Vào tháng 6/1944, Yang lại rơi vào tay quân Mỹ. Sau khi trở thành lính của ba quân đội, Yang quyết định không tham gia thêm bất kỳ quân đội nào nữa.

Tàu chiến chìm vì chỉ huy thích trình diễn
HMS Victoria là một tàu chiến tối tân của Hải quân Hoàng gia Anh. Nó bắt đầu phục vụ từ năm 1888 và Hải quân muốn nó trở thành soái hạm của Hạm đội Địa Trung Hải. Vào ngày 22/6/1893, Phó đô đốc George Tryon chỉ huy 10 tàu chiến thuộc Hạm đội Địa Trung Hải tiến ra biển. Các tàu di chuyển thành hai hàng, mỗi hàng cách nhau chừng 1.000 m. HMS Victoria dẫn đầu một hàng, còn HMS Camperdown dẫn đầu hàng kia. Hôm ấy bỗng dưng Tryon nghĩ rằng ông phải thực hiện một hành động bất ngờ để gây ngạc nhiên cho đám đông trên cảng.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 3)
Ảnh minh họa: Listverse
Vị Phó đô đốc ra lệnh cho hai tàu dẫn đầu xoay 180 độ về phía nhau rồi tiếp tục tiến về phía cảng. Sau khi HMS Victoria và HMS Camperdown xoay, các tàu tiếp theo cũng thực hiện động tác tương tự. Khoảng cách giữa các tàu nhỏ hơn nhiều so với bán kính vòng tròn cần thiết để mỗi tàu thực hiện động tác xoay. Đó là điều mà Tryon không nghĩ tới. Vì thế hai tàu dẫn đầu đâm vào nhau. Vụ va chạm khiến HMS Victoria chìm, còn HMS Camperdown hư hại nặng. Hơn một nửa thủy thủ trên HMS Victoria chết. Có lẽ Tryon cảm thấy quá hổ thẹn nên ông quyết định chìm xuống biển cùng tàu HMS Victoria.
Thả kẹo xuống trận địa vì hiểu sai mật mã
Trận chiến Hồ chứa Chosin là một trong những sự kiện trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong trận này, 120.000 quân Trung Quốc bao vây lực lượng gồm 20.000 binh sĩ của nhiều nước tại hồ Chosin từ ngày 27/11/1950 tới ngày 13/12/1950.  Mặc dù phía Trung Quốc hứng chịu thương vong lớn, họ vẫn buộc đối phương phải rút lui hoàn toàn. Một trong những nguyên nhân khiến liên quân rút lui chính là kẹo Tootsie Rolls.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 3)
Ảnh minh họa: Listverse
Sau khi số lượng đạn pháo của pháo binh thuộc thủy quân lục chiến Mỹ gần cạn, máy bay của liên quân rất dễ trúng đạn trước hỏa lực phòng không mạnh của quân Trung Quốc. Vì thế thủy quân lục chiến Mỹ yêu cầu không quân chi viện đạn pháo bằng dù để họ kiềm chế hỏa lực phòng không của đối phương. Mật mã của đạn pháo là “Tootsie Rolls”. Tuy nhiên, do “Tootsie Rolls” cũng là tên một loại kẹo mềm nên bộ phận hậu cần tưởng binh sĩ ở hồ Chosin muốn ăn kẹo. Vì thế họ điều một máy bay thả kẹo Tootsie Rolls xuống trận địa. Mặc dù những chiếc kẹo giúp lính của liên quân nâng cao tinh thần, họ vẫn buộc phải phá vòng vây của đối phương để rút về phía nam vào ngày 13/12/1950.


Thái Dương - zing.vn

10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 2)

Một thiên thạch lao xuống trận địa khi quân La Mã và Pontus chuẩn bị giao chiến. Binh sĩ hai bên chạy tán loạn vì họ tin rằng Thượng đế đang nổi cơn thịnh nộ.

Vua mù tung hoành giữa sa trường

Ngày 26/8/1346, quân đội Anh và xứ Wales gặp quân đội Pháp ở vùng Crecy thuộc Pháp. Vua John của Bohemia (thuộc Czech ngày nay) cũng tham gia trận chiến với tư cách là đồng minh của Pháp và dẫn theo những hiệp sĩ của ông. Trước đó, vào năm 1340, vua John bỗng dưng mất khả năng nhìn trong lúc ra chiến trường. Mặc dù vậy, tình trạng mù không thể ngăn cản một chiến binh dũng cảm như John ra trận.

Ảnh minh họa: magnoliabox.com
Trong lúc cuộc chiến giáp lá cà diễn ra, ưu thế nghiêng về phía quân Anh và xứ Wales. Với những cây cung dài, họ đã tàn sát vô số lính Pháp và Bohemia. Tất nhiên, John không biết thực tế đó nên ông vẫn thúc ngựa lao về phía đối phương. Các hiệp sĩ của John không dám can ngăn khi đức vua làm vậy, mà chỉ bám theo ông. John lao thẳng vào đám quân Anh và mất mạng ngay lập tức. Những hiệp sĩ của ông cũng tử trận. Sau khi trận chiến kết thúc, lính Anh và xứ Wales thấy xác của các hiệp sĩ Bohemia gần xác vua John.

Giao tranh bùng phát vì một vì một binh sĩ lạc đường
Vào năm 1931, đế quốc Nhật Bản chiếm vùng Mãn Châu của Trung Quốc và lập ra chính quyền bù nhìn Mãn Châu Quốc do Phổ Nghi, hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, đứng đầu. Các điều khoản của Điều ước Tân Sửu vào năm 1901 quy định rằng phái đoàn của các nước tại thành phố Bắc Kinh có quyền đưa binh lính tới 12 điểm dọc theo tuyến đường sắt Bắc Kinh – Thiên Tân để bảo vệ tuyến lưu thông giữa thủ đô của Trung Quốc và cảng biển. Một điều khoản bổ sung cho phép binh sĩ các nước dọc tuyến đường sắt Bắc Kinh – Thiên Tân tập trận mà không phải báo trước cho chính phủ Trung Quốc.
Lư Câu là tên một cầu ở trấn Uyển Bình – một khu vực phía tây nam Bắc Kinh. Nó cũng là một chốt trên tuyến đường sắt Bắc Kinh – Vũ Hán do quân đội Quốc dân đảng trấn giữ.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 2)
Binh sĩ Trung Quốc tham chiến trong trận Lư Câu Kiều vào năm 1937. Ảnh: tour-beijing.com
Trước khi sự kiện Lư Câu Kiều xảy ra, quân Nhật đã kiểm soát các khu vực phía bắc, đông và tây của Bắc Kinh vào đầu năm 1937. Đêm 7/7 cùng năm, quân Nhật tổ chức một cuộc tập trận mà không báo trước cho chính quyền Trung Quốc. Cho rằng lính Nhật tấn công thật, binh sĩ Trung Quốc đã nổ súng. Sau khi hai bên ngừng bắn, phía Nhật phát hiện một binh sĩ mang tên Shimura Kikujiro không trở về đơn vị.
Mặc dù các tướng Trung Quốc cho phép quân Nhật vào trấn Uyển Bình để tìm binh sĩ mất tích, quân Nhật vẫn tấn công lính Trung Quốc vào sáng sớm hôm 8/7 vì họ nghi ngờ đối phương đã bắt Kikujiro. Cuộc giao tranh diễn ra trên cầu Lư Câu và cả hai bên hứng chịu tổn thất nặng. Sự kiện Lư Câu Kiều (theo cách gọi của người Nhật) đã châm ngòi cho Chiến tranh Trung – Nhật, còn Chiến tranh Trung – Nhật về sau trở thành một phần của Thế chiến thứ hai. Cũng trong ngày 8/7, binh sĩ Kukujiro trở về nhà và cảm thấy ngạc nhiên khi biết những diễn biến đã xảy ra sau khi anh ta mất tích. Kikujiro nói rằng anh ta lạc đường sau khi vào một nhà vệ sinh.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 2)
Những tượng sư tử đá trên cầu Lư Câu. Ảnh: blogspot.com
Quân hai bên tan rã vì thiên thạch
Lucius Licinius Lucullus là một nhà quân sự và chính trị gia lừng danh của Cộng hòa La Mã. Ông chỉ huy quân đội trong Chiến tranh Mithridates lần thứ ba – một cuộc chiến giữa Cộng hòa La Mã với đế quốc Pontus của vua Mithridates VI từ năm 76 tới năm 63 trước Công nguyên. Một lần, Lucullus biết tin quân đội Pontus đã rời khỏi vương quốc để chinh phạt một nơi xa xôi. Ngay lập tức ông dẫn quân sang lãnh thổ Pontus với hy vọng đối phương sẽ không kịp trở tay. Nhưng, trước sự ngạc nhiên của Lucullus, đích thân vua Mithridates đã nghênh đón đoàn quân La Mã.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 2)
Ảnh minh họa: examiner.com
Trong lúc binh lính hai bên dàn trận để chuẩn bị giao chiến, một thiên thạch đột nhiên xuất hiện trên bầu trời. Nó bốc cháy trong không khí, biến thành khối cầu lửa rồi lao xuống một vị trí giữa hai quân. Cho rằng Thượng đế đang nổi giận, lính của cả hai bên đều chạy tứ phía khỏi trận địa. Đây là lần đầu tiên một thiên thạch trở thành kẻ chiến thắng trong một trận đánh. Về sau Lucullus vẫn đánh bại vua Mithridates – một kết cục khiến một phần của Pontus trở thành một tỉnh của Cộng hòa La Mã, trong khi phần còn lại trở thành một nước chư hầu của Cộng hòa La Mã. Tuy nhiên, Viện nguyên lão La Mã tước quyền chỉ huy quân đội của Lucullus sau khi ông thất bại trong nỗ lực xâm lược Armenia.



Thái Dương -Zing.vn

10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 1)

Kỵ binh Pháp bắt toàn bộ một hạm đội Hà Lan trên biển nhờ thời tiết giá lạnh, còn những điếu thuốc lá chứa thuốc phiện giúp quân Anh thắng quân Thổ một cách dễ dàng.

Kỵ binh bao vây tàu chiến

Chiến tranh Liên minh thứ nhất là cuộc chiến tại châu Âu từ năm 1793 tới năm 1797. Trong cuộc chiến này, Pháp phải chống hàng loạt nước châu Âu như Anh, Phổ, Áo, Bồ Đào Nha, Thánh chế La Mã, Tây Ban Nha, Hà Lan (khi đó Hà Lan thuộc Áo).


Do thời tiết lạnh giá, nước đóng băng nên các kỵ binh Pháp có thể bao vây hạm đội Hà Lan vào năm 1795. Ảnh: Listverse
Vào tháng 1/1795, quân Pháp tiến vào Hà Lan. Thời tiết cực lạnh khi đó đã dẫn tới một trong những trận chiến kỳ quái nhất trong lịch sử. Johan Willem de Winter, một viên tướng Pháp, dẫn đầu một đoàn kỵ binh nhẹ để chiếm Den Helder - một vùng đất giáp biển. Mục đích của việc chiếm Den Helder là ngăn chặn các tàu của Hà Lan tẩu thoát sang Anh. Khi de Winter tới nơi, ông phát hiện một hạm đội Hà Lan mắc kẹt trong lớp băng dày dù chúng neo đậu trên biển. Đoàn kỵ binh Pháp lặng lẽ tiến tới vị trí của hạm đội Hà Lan và bao vây chúng. Chẳng còn cách nào khác, các thủy thủ Hà Lan phải đầu hàng. Đây là lần đầu tiên và duy nhất một đội quân kỵ binh bắt một hạm đội trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Săn lùng kẻ thù tưởng tượng
Vào tháng 5/1943, L. Ron Hubbard, một sĩ quan chỉ huy tàu săn ngầm PC-815 của Hải quân Mỹ, nhận nhiệm vụ đưa tàu từ Portland tới Sand Diego. Vào khoảng 3h40 sáng ngày 19/5, Hubbard phát hiện một vật đáng nghi trên thiết bị dò tìm tàu ngầm bằng sóng siêu âm và ông đoán đó là tàu ngầm Nhật Bản (kẻ thù của Mỹ thời ấy). Tới 9h06 cùng ngày, hai khí cầu Mỹ bay tới để hỗ trợ Hubbard. Vào nửa đêm ngày 21/5, một hạm đội nhỏ tham gia nỗ lực tìm tàu ngầm Nhật Bản. Hạm đội này bao gồm hai tàu khu trục và 3 tàu tuần duyên.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 1)
Một tàu săn ngầm của Hải quân Mỹ vào năm 1944. Ảnh: indicatorloops.com
Sau khi tìm kiếm tàu ngầm Nhật Bản trong 68 giờ nhưng không đạt kết quả, cấp trên ra lệnh cho Hubbard ngừng chiến dịch. Một báo cáo, với lời kể của nhiều chỉ huy tàu tại hiện trường, cho thấy Hubbard đã phát hiện một mỏ khoáng sản có từ tính dưới đáy biển. Từ tính của mỏ đã tác động tới thiết bị dò tìm, khiến Hubbard tưởng một tàu ngầm đang lởn vởn đâu đó. Sau đó Hubbard còn suýt gây ra sự cố ngoại giao khi tàu của ông nã đạn vào lãnh thổ Mexico.
Trận chiến nổ ra vì hai lính say rượu
Vào mùa thu năm 334 trước Công nguyên, Alexander Đại đế sa lầy trong cuộc chinh phạt thành phố Halicarnassus (nay là thành phố Bodrum của Thổ Nhĩ Kỳ). Hồi ấy Halicarnassus là thành phố của người Ba Tư. Quân Ba Tư có rất nhiều vũ khí, lương thực, thuốc men. Những bức tường của họ cũng đủ kiên cố để chống máy bắn đá. Vì thế, quân của Alexander Đại đế vấp phải sự kháng cự quyết liệt của đối phương. Cuộc vây hãm dài và khó đã khiến nhiều binh sĩ của Alexander Đại đế cảm thấy chán nản. Hai binh sĩ thuộc binh đoàn Perdiccas cũng rơi vào tình trạng tương tự. Do ở cùng lều, họ hay nói chuyện với nhau. Một hôm, trong lúc say rượu, cả hai cãi nhau về việc ai trong số họ chiến đấu giỏi hơn. Cuối cùng họ tìm ra một cách để giải quyết tranh cãi. Theo giải pháp của họ, cả hai sẽ tấn công thành Halicarnassus và người nào giết được nhiều lính Ba Tư sẽ là chiến binh giỏi hơn.
Thấy hai binh sĩ say xỉn từ phía đối phương tiến tới cổng thành, lính Ba Tư trong thành bỏ vị trí và xông ra cổng thành để giết. Hai binh sĩ kia hạ sát khá nhiều đối thủ, nhưng cuối cùng họ vẫn tử trận. Binh lính cả hai bên đều thấy trận chiến nhỏ nên họ xông tới để hỗ trợ đồng đội. Chẳng bao lâu cuộc chiến nhỏ trở thành cuộc chiến lớn. Trong lúc hai bên đánh nhau, nhiều lúc quân của Alexander Đại đế suýt chiếm được thành. Nếu toàn bộ lực lượng của Alexander Đại đế tham chiến hôm ấy, có lẽ thành Halicarnassus đã thất thủ.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 1)
Ảnh minh họa: Listverse
Lừa kẻ thù bằng thuốc phiện
Anh và đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) là kẻ thù của nhau trong Thế chiến thứ nhất. Vào ngày 5/11/1917, quân Anh phản công quân Ottoman sau khi quân Ottoman tấn công các thuộc địa của họ. Quân Anh đẩy quân Thổ tới tận thành phố Sheria, nơi tiếp giáp với Dải Gaza của Palestine ngày nay về phía nam, và bao vây đối phương.
10 tình huống kỳ lạ nhất trong lịch sử chiến tranh (kỳ 1)
Ảnh minh họa: Listverse
Richard Meinertzhagen, một sĩ quan tình báo Anh, quyết định tặng quân Thổ một món quà bất ngờ. Một hôm lính Thổ thấy máy bay Anh thả thuốc lá và truyền đơn xuống chiến tuyến của họ. Lính Thổ đua nhau hút thuốc lá mà không hề biết rằng quân Anh đã tẩm thuốc phiện vào các điếu thuốc theo sáng kiến của Meinertzhagen. Khi quân Anh tấn công vào ngày hôm sau, lính Thổ kháng cự rất yếu ớt. Phần lớn lính Thổ không thể đứng vững nên họ không thể chống trả.

Thái Dương (theo Listverse)

Những chiêu đánh lừa táo bạo trong chiến tranh (kỳ 1)

Hồng quân Liên Xô tạo ra một đội quân Đức giả mạo để lấy người, hàng hóa của chính quyền Quốc Xã, còn một tướng Mỹ dùng khúc gỗ để ép đối phương đầu hàng.

Lập đội quân giả để lấy hàng, người của địch
Từ tháng 8/1944 tới tháng 5/1945, Hồng quân Liên Xô tạo ra một đội quân Đức giả mạo gồm 2.500 người để tìm hiểu hệ thống ban hành mệnh lệnh và mật mã tình báo của phát xít Đức, The Siberian Times đưa tin. Thành viên của lực lượng này đều là người Đức - gồm đảng viên Cộng sản và tù binh Đức. Người chỉ huy họ là Heinrich Scherhorn, một tù binh Đức có khả năng nói cả tiếng Anh và Pháp. Scherhorn từng mang quân hàm trung tá trước khi Hồng quân bắt ông ta.
Binh sĩ Đức tham chiến trong Thế chiến thứ hai. Ảnh: blogspot.com
Hồng quân tạo mọi điều kiện để giới lãnh đạo phát xít ở Berlin nghĩ rằng 2.500 lính Đức mắc kẹt phía sau chiến tuyến của Liên Xô nhưng vẫn cố kháng cự dưới sự chỉ huy của Scherhorn. Sau đó họ liên lạc với đại bản doanh của quân đội Đức để yêu cầu Berlin tiếp tế, đồng thời giúp họ đột phá tiền tuyến của Hồng quân để về nước. Mẹo của Hồng quân phát huy hiệu quả. Từ tháng 8/1944 tới khi Đại chiến Thế giới thứ hai kết thúc, quân Đức liên tục thả người và hàng hóa để tiếp tế cho đội quân giả mạo.
Trong suốt quá trình chiến dịch Scherhorn diễn ra, Hồng quân thu một lượng lớn hàng hóa và bắt 25 sĩ quan Đức. Sau đó họ thuyết phục những sĩ quan Đức ấy tham gia trò lừa. Những tướng lĩnh ở Đức không bao giờ nhận ra rằng Hồng quân đang đánh lừa họ. Trùm phát xít Adolf Hitler tin tưởng tuyệt đối toàn bộ kịch bản mà Hồng quân vẽ ra. Thậm chí ông ta còn thăng cấp và trao huân chương vắng mặt cho Scherhorn và các binh sĩ giả mạo.
Cố tình để đối phương chiến thắng
Benedict Arnold, một tướng tài năng trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, là một trong những kẻ phản bội nổi tiếng nhất trong lịch sử. Nhưng trước khi phản bội quân thuộc địa để giúp đỡ quân Anh, tài năng quân sự xuất chúng của ông thể hiện trong Trận chiến đảo Valcour vào tháng 10/1776. Trên hồ Champlain, 15 tàu chiến của Arnold phải đối đầu với 25 tàu chiến tối tân hơn của Anh. Với hiểu biết thông thường, mọi người đều đoán hạm đội Anh sẽ đập tan hạm đội của quân thuộc địa.
Những chiêu đánh lừa táo bạo trong chiến tranh (kỳ 1)
Một tranh chân dung của Benedict Arnold. Ảnh: Wikipedia
Quả thực hạm đội Anh giành thắng lợi mang tính chiến thuật, nhưng về sau họ mới biết Arnold cố tình tạo điều kiện cho đối thủ giành ưu thế để đoạt thắng lợi cuối cùng, New York Daily News cho hay. Sự hiện diện của hạm đội quân thuộc địa khiến Hải quân Anh phải dành khá nhiều thời gian để đóng các chiến hạm. Vào thời điểm họ đóng xong các tàu và giành thắng lợi, mùa đông đã tới gần, buộc các tàu chiến Anh phải lui về Canada và hoãn kế hoạch tấn công bang New York vào năm sau. Thực tế đó mang đến cho quân thuộc địa khá nhiều thời gian để xây dựng các hệ thống phòng thủ. Vì thế, khi quân Anh tấn công bang New York vào năm 1777, họ hứng chịu thất bại thê thảm.
Dọa kẻ thù bằng vũ khí giả
Trong nhiều cuộc chiến tranh, người ta từng phết sơn đen lên những khúc gỗ hoặc các vật liệu khác để tạo nên những khẩu đại bác giả. Đây là công cụ để một đội quân đe dọa hoặc đánh lừa đối phương. Tất nhiên, số vụ đầu hàng vì đại bác giả rất hiếm, song một vụ như vậy từng xảy ra trong cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ. Vào ngày 4/12/1780, đại tá William Washington – một em họ của tổng thống Mỹ George Washington - chỉ huy một chiến dịch quân sự ở bang South Carolina. Ông phát hiện 115 người trung thành với Anh cố thủ bên trọng một ngôi nhà.
Những chiêu đánh lừa táo bạo trong chiến tranh (kỳ 1)
Ảnh minh họa: blogspot.com
Không muốn hao binh và tốn đạn bởi những người trong ngôi nhà, William ra lệnh cho thuộc cấp phết sơn đen lên một khúc gỗ để nó giống khẩu súng đại bác. Viên đại tá tuyên bố ông sẽ bắn đại bác nếu những người ẩn náu trong ngôi nhà không đầu hàng vô điều kiện, Fox New đưa tin. Ngay sau đó lực lượng bên trong ngôi nhà hạ vũ khí và bước ra ngoài. Đến khi những binh sĩ trung thành với Anh nhận ra “khẩu đại bác” chỉ là một khúc gỗ thì họ đã không còn vũ khí để chiến đấu.
Khiến đối phương buông vũ khí bằng thư giả
Vào tháng 3/1271, vua Baybars tài năng của Ai Cập dẫn một đội quân Hồi giáo tới vùng đất thuộc Syria ngày nay để bao vây Krak des Chevaliers – một trong những lâu đài do dòng tu Hiệp sĩ Cứu tế kiểm soát. Lực lượng của Baybars siết dần vòng vây và đẩy các hiệp sĩ Cứu tế vào bên trong lâu đài trước ngày cuối cùng của tháng 3.
Biết rằng đối phương sẵn sàng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, vua Baybars ra lệnh cho thuộc hạ mạo danh thủ lĩnh của dòng tu Hiệp sĩ Cứu tế để viết một lá thư. Sau đó họ gửi thư cho các chiến binh trong lâu đài. Theo Guardian, nội dung lá thư yêu cầu và cho phép các hiệp sĩ đầu hàng. Lực lượng phòng thủ mắc mưu Baybars và đầu hàng quân Hồi giáo. Nhà vua tha mạng họ, đồng thời cho phép họ tới Tripoli (thuộc Libya ngày nay) với điều kiện họ không bao giờ trở lại. Vào tháng 4/1271, quân Ai Cập kiểm soát hoàn toàn lâu đài và biến nó thành một pháo đài của họ.

Top