ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Style5

Style5

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Christopher Columbus và hành trình kỳ vĩ tới Châu Mỹ

Columbus khẳng định con đường thuận tiện nhất để đi tới Nhật Bản và Đông Á là đi thuyền vượt Đại Tây Dương về hướng Tây, nhưng không ngờ lục địa lớn châu Mỹ đã chắn đường của ông.


Sáng sớm 12/10/1492, trên cuộc hành trình đi tìm Ấn Ðộ bằng đường biển, nhà hàng hải Christopher Columbus đã khám phá ra châu Mỹ, miền đất chưa ai biết đến. Ðây là một sự kiện lịch sử, mở đầu cho việc tìm hiểu Tân thế giới và dẫn tới việc phổ biến nền văn minh tây phương trên lục địa này.
Dường như khao khát chinh phục thế giới đã được nuôi dưỡng trong con người Christopher Columbus ngay từ thuở nhỏ. Ông sinh năm 1451 tại thành phố Genoa của Italy, nhưng năm 1476 ông đến sống ở Bồ Đào Nha. Một sự thay đổi địa lý lớn như vậy đã ảnh hưởng nhiều đến Columbus. Tại Bồ Đào Nha, ông đã tham gia rất nhiều cuộc viễn du với những người đi biển ở nước này.
Ở thế kỷ 15, châu Âu vô cùng sôi động với các hoạt động thương mại lớn. Các nhà buôn lớn với mong muốn kiếm được nhiều tiền, đã thúc giục những người thủy thủ, những nhà thám hiểm đi tìm những miền đất mới để mở rộng thị trường. Đây chính là điều kiện để những con người say mê khám phá, say mê chinh phục những vùng đất mới như Columbus thực hiện mong muốn của mình. 
Thời ấy, Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia giàu có bậc nhất ở phương Đông, nơi bất cứ lái buôn châu Âu nào cũng muốn được đến để trao đổi hàng hóa. Nhưng người ta phải vượt qua rất nhiều lục địa rộng lớn, vượt qua đường đi dài hiểm trở và chỉ được phép tiến về một hướng duy nhất, hướng Đông. Một con đường mới, ngắn hơn sẽ là giải pháp tối ưu để khắc phục những điều đó.
Columbus với niềm tin chắc chắn rằng trái đất có hình tròn, đã quyết tâm đi tìm phương Đông từ một phương hướng khác, từ phía Tây. Ông khẳng định rằng con đường thuận tiện nhất và dễ dàng nhất để đi tới Nhật Bản và Đông Á là đi thuyền vượt Đại Tây Dương về hướng Tây, vòng quanh trái đất. Người thủy thủ dày dạn kinh nghiệm ấy không hề biết rằng, lục địa lớn châu Mỹ sẽ chắn đường đi của ông. 
Columbus đã kêu gọi mọi người ủng hộ, tài trợ cho chuyến thám hiểm này. Dù rất nhiều người muốn có được con đường mới ấy nhưng họ đều ngần ngại không dám tin ông. Không từ bỏ ý định, Columbus sang sống ở Tây Ban Nha và cố gắng vận động sự tài trợ của quốc gia này. Sau nhiều lần bị từ chối, cuối cùng Hoàng hậu Isabella I đã chấp thuận tài trợ cho chuyến đi đã trở thành có một không hai trong lịch sử. 
Columbus được giao phó chỉ huy ba chiếc tàu thám hiểm có tên: Nina, Pinta và Santa Maria. Thủy thủ đoàn của ông gồm có 88 người. Vào ngày 3/8/1492, Columbus dẫn đầu đoàn thám hiểm rời cảng xứ Tây Ban Nha để tiến về phía tây. Mục đích cuộc thám hiểm của Columbus là châu Á, điển hình là Ấn Ðộ và Trung Hoa, nơi được nghe nói là có vô số kho vàng, ngọc trai, kim cương và gấm vóc đang đợi chờ.
Chuyến thám hiểm của Columbus dài hơn dự tính và sau vài tháng tiếp tục lên đênh trên biển không tìm thấy đất liền, thủy thủ đoàn bắt đầu lo ngại và yêu cầu ông phải quay trở lại Tây Ban Nha. Ông đã giao hẹn với thủy thủ đoàn là nếu trong hai ngày không nhìn thấy đất liền, ông sẽ chấp nhận cho thuyền quay về. 
Ðúng hai ngày sau, vào ngày 12/10/1492, một thủy thủ trên tàu Pinta tên là Rodrigo de Triana đã thấy các chỉ dấu của đất liền. Sau khi nhìn thấy đất liền, Columbus đã đặt tên dãy đất này là San Salvador. Đó chính là vùng Bahamas nổi tiếng ngày hôm nay. Những thổ dân đầu tiên trên đảo được Columbus gọi là người Indian vì lúc đầu ông lầm tưởng mình đã đến được Ấn Ðộ. Sau đó, hòn đảo lớn hơn mà Columbus khám phá ra là đảo Cuba và đảo Haiti.
Tháng 3/1493, đoàn thuyền Columbus trở về Tây Ban Nha, ông được triều đình và nhân dân đón tiếp trọng thể, được vua phong làm Phó vương và Toàn quyền các thuộc địa ở Tân Lục Địa.
Sau chuyến đi đầu tiên, Columbus còn thực hiện 3 chuyến thám hiểm nữa. Ông đã khám phá ra hầu hết các đảo trên quần đảo Angtigua và cả bờ biển Trung Mỹ. Nhưng số vàng bạc của cải ông mang về cho vua Tây Ban Nha quá ít ỏi nên không được trọng vọng. Ngày 20/5/1506, ông mất tại một thành phố nhỏ ở miền bắc Tây Ban Nha trong sự nghèo khổ và lãng quên.
Tuy Columbus tới được châu Mỹ do sự tình cờ bởi chủ đích của ông là đi tìm một con đường biển để tới châu Á, và cho tới ngày qua đời, Columbus vẫn tin rằng mình đã đạt được mục tiêu. Nhưng dù xảy ra sự nhầm lẫn đó, người đời sau vẫn tôn vinh Columbus là một trong những nhà hàng hải lớn nhất. Thế giới sẽ không phải là như hiện tại nếu không có những khám phá vĩ đại của ông.
Columbus đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho lịch sử châu Âu, đồng thời mở ra trang sử mới cho châu Mỹ. Từ phát hiện rất tình cờ của Columbus, một kỷ nguyên xâm chiếm và khai phá vùng đất mới bắt đầu. Mọi vấn đề khó khăn của châu Âu lúc bấy giờ đã được giải quyết. Vấn đề dân số ngày càng tăng không còn đáng lo ngại; nguồn nguyên vật liệu, khoáng sản giàu có của châu Mỹ cũng khiến nền kinh tế châu Âu thay đổi lớn. Bên cạnh đó, sự thành công trong việc thiết lập văn hóa Âu châu trên vùng đất mới của ông cũng là một nỗ lực đáng kể. 
Tuy không hề đặt chân lên vùng Bắc Mỹ, Columbus vẫn được người dân nước Mỹ ghi nhớ hàng năm vào ngày 12/10, đánh dấu ngày châu Mỹ đã được khám phá. Ngày tưởng niệm Columbus cũng được tổ chức hàng năm tại Tây Ban Nha. 
Hành trình của Columbus là cuộc phiêu lưu thật sự của một con người thật sự, đã trở thành đề tài cho vô số các giả tưởng, nhân vật của huyền thoại và lịch sử, không phải của một quốc gia, mà của châu Mỹ. Columbus là biểu tượng của óc tưởng tượng với một ý chí thực hiện mộng tưởng quyết liệt và thành công.


10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 2)


Nhiều tàu, máy bay từng biến mất trong tam giác quỷ Bermuda trên Đại Tây Dương, trong khi nhiều người bỗng dưng gặp họa do cơ thể họ tự cháy.
Tiếng ồn ở tần số thấp
Chỉ một số người có thể nghe thấy âm thanh ở tần số thấp nhưng khả năng đó hoàn toàn không mang lại cho họ lợi ích. Do chỉ 1/20 dân số nghe thấy âm thanh khó chịu này nên họ phải chịu đựng tiếng ồn mà không ai có thể giúp đỡ. Chỉ tới năm 2006, một nhà khoa học người New Zealand mới ghi lại được những âm thanh này.

Mô phỏng âm thanh tần số thấp ảnh hưởng tới một số người. Ảnh: Blogspot.
Tuy nhiên, việc chứng minh tiếng ồn tần số thấp tồn tại cũng không thể giúp ích nhiều cho những người có khả năng cảm nhận chúng. Người ta không thể tìm ra nguồn phát của những âm thanh tần số thấp, khiến nỗ lực ngăn chặn nó thất bại. Các nhà khoa học chưa thể tìm ra cách giúp đỡ những người bị âm thanh này hành hạ.
Ve sầu tái xuất sau gần 2 thập niên 
Ve sầu Bắc Mỹ tái xuấttheo chu kỳ 17 năm/lần là một trong những hiện tượng thiên nhiên kỳ thú bậc nhất thế giới. Chúng cần tới khoảng thời gian đó để hoàn tất vòng đời, lâu gấp 17 lần những loài ve sầu khác trên khắp thế giới. Các nhà nghiên cứu cho biết, ve sầu Bắc Mỹ tái xuất khi nhiệt độ lòng đất đạt 17,7 độ C.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 2)
Ve sầu tái xuất sau gần 2 thập niên. Ảnh: Washingtonpost.
Trong lần tái xuất năm 2013, khoảng 30 tỷ con ve sầu đồng loạt chui khỏi lòng đất để tìm kiếm bạn tình, khiến cuộc sống của dân Mỹ đảo lộn. Tiếng ồn mà loài côn trùng này tạo ra hành hạ người Mỹ trong khoảng 3 đến 4 tuần. Hiện tại, các nhà khoa học chưa thể hiểu rõ cơ chế tái xuất kỳ lạ của chúng.
Những trận mưa động vật
Mưa kèm theo những con vật từ trên trời rơi xuống là hiện tượng từng xảy ra trong tự nhiên. Chúng có thể là những trận mưa cá chích, cá cơm hay mưa cóc, mưa ếch. Các nhà khoa học xác nhận hiện tượng này và đưa ra nhiều cách giải thích cho cơ chế hình thành của nó nhưng chưa phương án nào được chấp nhận rộng rãi.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 2)
Mô phỏng cơn mưa động vật. Ảnh: beforeitsnews.com.
Phần lớn giới nghiên cứu cho rằng mưa động vật bắt nguồn từ những đợt lốc xoáy, vòi rồng hình thành trên biển hoặc sông hồ, cuốn theo các loài động vật nhỏ bé tới khu vực cách đó rất xa. Tuy nhiên, một số người bác bỏ giả thuyết này. Họ cho rằng nhiều trận mưa động vật xảy ra ở những khu vực mà bão và lốc xoáy không hề tồn tại trong vài ngày trước đó.
Máy bay, tàu thuyền mất tích ở tam giác quỷ Bermuda
Tam giác quỷ Bermuda được tạo thành từ 3 đỉnh Miami, đảo Bermuda và đảo Puerto Rico trên Đại Tây Dương. Nó là một trong những địa danh huyền bí nhất thế giới do nhiều máy bay và tàu thuyền biến mất mà không để lại dấu vết khi chúng di chuyển qua vùng biển này. Thậm chí, một đội máy bay ném bom của hải quân Mỹ từng mất tích khi bay qua đây.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 2)
Mô phỏng tàu thuyền, máy bay mất tích ở Bermuda. Ảnh: Blogspot.
Không chỉ máy bay, tàu thuyền lớn, bao gồm chiến hạm USS Cyclops của Mỹ, cũng mất tích bí ẩn khi đi qua tam giác Bermuda vào năm 1918. Vào thời điểm đó, USS Cyclops là chiến hạm và tối tân bậc nhất. Tuy nhiên, con tàu biến không phát đi bất kỳ tín hiện cấp cứu nào khi đi qua Bermuda.
Người ta đưa ra rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguyên nhân khiến tàu thuyền, máy bay mất tích ở Bermuda. Nhiều người cho rằng, vòi rồng khổng lồ, sương mù hoặc những vụ phun trào khí metan lớn khiến các phương tiện mất tích khi đi qua nó. Số người khác tin vào sự tồn tại của quái vật và những điều huyền bí ở đây.
Cơ thể tự bốc cháy
Các nhà khoa học trên thế giới từng nhiều lần ghi nhận những trường hợp tự bốc cháy, biến con người thành ngọn đuốc sống. Giới y khoa gọi nó là Hội chứng bốc cháy tự phát (SHC). Theo các bác sĩ, cơ thể những người mắc hội chứng này tiết ra loại khí dễ cháy. Nếu các khí này tụ lại, cơ thể bắt lửa dễ dàng, khiến nạn nhân bỏng nặng hoặc tử vong.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 2)
Nhiều trường hợp tử vong vì cơ thể tự bốc cháy. Ảnh: secretsofthefed.com.
Dù xác định được cơ chế khiến cơ thể tự bốc cháy nhưng các nhà khoa học chưa thể tìm ra nguyên nhân gây ra hiện tượng ấy. Người ta cũng đang tìm cách điều trị dứt điểm Hội chứng bốc cháy tự phát, nhằm giảm thiểu nguy cơ tử vong cho những người mắc phải căn bệnh kỳ lạ này.



Hồng Duy -zing.vn

10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích (kỳ 1)


Ánh sáng kỳ lạ xuất hiện trước động đất, đá biết đi ở thung lũng Chết là những hiện tượng kỳ bí mà các nhà khoa học chưa thể tìm được lời đáp.
Ánh sáng lạ xuất hiện trước động đất
Rất nhiều người khẳng định, họ nhìn thấy vầng sáng lạ bất thường trên bầu trời khu vực sắp xảy ra động đất hoặc núi lửa phun trào. Tuy nhiên, thứ ánh sáng này chỉ chính thức được cộng đồng các chuyên gia địa chấn thừa nhận khi người ta chụp được bức ảnh đầu tiên về nó trong trận động đất Matsushiro ở Nagano, Nhật Bản.
Ánh sáng lạ trên bầu trời Michigan, Mỹ. Ảnh: beliefnet.com.
Ánh sáng lạ này xuất hiện rất nhiều lần với hình dạng và màu sắc hoàn toàn khác nhau. Một số vầng sáng tồn tại trong vài giây nhưng số khác có thể xuất hiện trong vài chục phút. Trên thực tế, các nhà khoa học chưa thể xác định nguyên nhân tạo ra những vầng sáng này do chúng ta chưa biết rõ cơ chế gây ra động đất. Công nghệ hiện tại chưa cho phép con người dự báo trước khu vực xảy ra động đất nên các nhà khoa học gần như không có cơ hội nghiên cứu sâu hơn những vầng sáng lạ này.
Hình vẽ lạ trên cao nguyên Nazca
Những hình vẽ này tồn tại trong lòng sa mạc Nazca, khu vực nằm giữa thị trấn Nazca và Palpa ở Pampas de Jumana, miền nam Peru. Cao nguyên này bao gồm hơn 300 hình vẽ, bao gồm hình chim ruồi, khỉ, nhện, thằn lằn…. Chúng được tạo nên trong nền văn hóa Nazca trong khoảng năm 200 trước công nguyên tới năm 600 sau công nguyên.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích
Hình vẽ kì dị trên cao nguyên Nazca. Ảnh: Alamy.
Người ta phát hiện những hình ảnh này trong năm 1920, khi máy bay thương mại bay qua khu vực này. Sau đó, các nhà khảo cổ khám phá thành phố biến mất ở gần khu vực này, thành phố Cahuachi, được xây dựng trong khoảng 2.000 năm trước. Tuy nhiên, thành phố này bị bỏ rơi cách đây 1.500 năm. Hiện tại, giới khảo cổ học vẫn chưa thể giải thích lý do vì sao người Nazca tạo ra những hình thù kỳ dị khổng lồ này.
Chuyến di cư kỳ lạ của bướm vua
Bướm vua là loài sinh vật sống ở Bắc Mỹ và New Zealand. Chúng sở hữu thân hình màu cam – đen rất dễ nhận ra. Sải cánh của loài này từ 8,9 – 10,2 cm. Chúng là loài bướm khá lớn, thu hút sự quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học do hành trình di cư kỳ dị của nó. Giống các loài chim, bướm vua di chuyển từ bắc Mỹ xuống phương nam để tránh rét trước khi bay trở lại vào mùa xuân.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích
Hàng triệu con bướm vua di cư tránh rét. Ảnh: Alamy.
Tuy nhiên, tuổi thọ của bướm vua rất ngắn, khiến không cá thể nào trong đàn sống đủ lâu để thực hiện hết hành trình. Chính vì lẽ đó, chúng liên tục sinh sản trong quá trình di cư và thế hệ con cháu của nó sẽ hoàn thành nốt chặng đường đi mà chúng còn bỏ lỡ. Để hoàn thành một chặng di cư, bướm vua phải trải qua 3 – 4 thế hệ. Chúng là một trong số ít côn trùng có khả năng bay vượt Đại Tây Dương.
Sét hình cầu
Sét hình cầu hay sét hòn là một trong những hiện tượng thiên nhiên khó lý giải nhất hiện nay. Thuật ngữ này đề cập tới hiện tượng tích điện trong khí quyển, tạo ra những tia sét hình cầu với đường kính lên tới vài mét. Sét hòn thường xuất hiện cùng mưa giống nhưng tia sáng tồn tại lâu hơn rất nhiều so với sét thông thường. Nhiều nghiên cứu cho rằng, sét hòn thường nổ trước khi biến mất, để lại mùi khí Sulfur trong không trung.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích
Sét hình cầu hay còn gọi là sét hòn. Ảnh: Alamy.
Các nhà khoa học chưa thể giải thích hiện tượng sét hòn nhưng một số lý thuyết cho rằng, sét hòn là quá trình đốt cháy các loại khí cháy chậm tồn tại trong khí quyển. Trong khi đó, một số người cho rằng sét hòn là quả cầu khí bị nung nóng trong bầu khí quyển hay sét hòn là khối Plasma mật độ cao… Tuy nhiên, chưa lý thuyết nào được công nhận là nguyên nhân gây ra sét hòn.
Đá biết đi ở thung lũng Chết
Trên bề mặt sa mạc khô cằn, nứt nẻ, ở thung lũng Chết, California, Mỹ, những hòn đá với đủ mọi kích cỡ liên tục di chuyển một cách bí ẩn, để lại những dấu vết dài trên mặt đất. Cá biệt, có những hòn đá nặng tới hơn 300 kg vẫn không nằm ngoài quy luật di chuyển kỳ lạ ở thung lũng này.
10 hiện tượng kỳ bí khoa học chưa thể giải thích
Người ta chưa thể lý giải hiện tượng đá biết đi ở Thung lũng Chết. Ảnh: Alamy.
Rất nhiều giả thuyết được đưa ra xung quanh bí ẩn đá biết đi trong lòng thung lũng Chết. Một số ý kiến cho rằng, những hòn đá di chuyển do tác động của lực hấp dẫn, khiến đá trượt dần trên mặt đất trong thời gian dài. Một số người khác cho rằng, không khí lạnh khiến sương đóng băng, giúp những tảng đá dễ dàng trượt đi khi có gió. Tuy nhiên, chưa giả thuyết nào đủ sức thuyết phục cộng đồng khoa học về bí ẩn ở thung lũng chết.

10 phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử vật liệu thế giới

4.200 chuyên gia về vật liệu xây dựng và khoa học từ 68 quốc gia đã tham dự Triển lãm - Hội thảo hằng năm tại Orlando (Florida, Mỹ) tháng 3/2007 để bỏ phiếu cho những phát minh các vật liệu vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Kết quả, Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học do nhà khoa học Nga Dmitri Mendeleev soạn ra năm 1869 đã được chọn là phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử vật liệu mới.

1. Bảng tuần hoàn Mendeleev


Đây là một phương pháp liệt kê các nguyên tố hóa học thành bảng. Những nguyên tố này được sắp xếp theo cấu trúc electron. Do cấu trúc electron là yếu tố quyết định tính chất hóa học của các nguyên tố, việc sắp xếp này tạo nên sự thay đổi đều đặn của các tính chất hóa học theo hàng và cột.

Mỗi nguyên tố được liệt kê bởi số nguyên tử và ký hiệu hóa học. Bảng tuần hoàn tiêu chuẩn cho biết các dữ liệu cơ bản nhất. Dựa trên bản này mà các nhà khoa học đã nỗ lực tổng hợp những vật liệu mới.

2) Nấu chảy sắt

Khoảng năm 3.500 trước Công nguyên, các nhà kim loại Ai Cập đã lần đầu tiên nấu chảy một số lượng nhỏ sắt cho mục đích trang trí vào các dịp trọng đại.

3) Chất bán dẫn

Năm 1948, ba nhà khoa học John Bardeen, Walter H. Brattain và William Shockley đã chế tạo ra chất bán dẫn. Nó trở thành khối nối kết cho tất cả thiết bị điện tử hiện đại, nền tảng cho các con chip và công nghệ vi tính.

4) Thủy tinh

Khoảng năm 2.200 trước Công nguyên, những người Iran ở tây bắc nước này đã chế tạo ra thủy tinh. Nó trở thành vật liệu xây dựng phi kim loại vĩ đại thứ hai trong lịch sử (sau gốm).

5) Kính hiển vi quang học

Năm 1668, Anton van Leeuwenhoek đã phát minh ra kính hiển vi quang học, với độ phóng đại gấp 200 lần. Nhờ sáng chế này mà người ta có thể nghiên cứu thế giới tự nhiên không thể thấy được bằng mắt thường.

6) Bêtông

Sau kính hiển vi, năm 1755, John Smeaton chế tạo ra bêtông hiện đại (ximăng cứng trong nước). Bêtông trở thành vật liệu xây dựng chủ yếu của nền văn minh hiện đại, vật liệu làm thay đổi những phương pháp xây dựng xuất hiện từ giữa thế kỷ 18.

7) Nấu thép

Khoảng năm 300 trước Công nguyên, các công nhân ở nam Ấn Độ đã phát minh được cách nấu thép gọi là “wootz”. Hàng trăm năm sau đó, phương pháp này được gọi là Damascus và là bí mật lớn cho các nhà công nghiệp, nhà luyện kim.

8) Chiết xuất và đúc đồng

Khoảng năm 5.000 trước Công nguyên, người dân Thổ Nhĩ Kỳ đã phát hiện ra có thể chiết xuất đồng lỏng từ các khoáng chất malachite và azurite, và kim loại nấu chảy có thể đúc thành những hình dáng khác nhau. Từ đó, ngành luyện kim khai khoáng ra đời.

9) Nhiễu xạ tia X

Năm 1912, Max von Laue phát hiện việc nhiễu xạ tia X bằng tinh thể. Nó tạo điều kiện cho việc mô tả các cấu trúc tinh thể và đặt nền tảng cho sự phát triển nghiên cứu về các vật liệu tinh thể.

10) Phương pháp Besseme

Năm 1856, Henry Besseme đã nhận bằng sáng chế cho phương pháp nấu thép có carbon thấp. Nó đặt nền tảng cho việc sản xuất thép rẻ hàng loạt và nhờ đó người ta có thể phát triển giao thông, xây dựng và công nghiệp hóa.

(Theo Tuổi Trẻ, Newswise)

Những gương mặt làm nên lịch sử hàng không thế giới

Sau thời anh em Wright, diện mạo thế giới đã thay đổi với sự xuất hiện của ngành hàng không dân dụng. Thế giới trở nên nhỏ bé hơn và khoảng cách địa lý gần như chỉ tồn tại trên bản đồ. Trong lịch sử ngành hàng không, ngoài thành tựu cột mốc của anh em Wright, còn phải kể đến công sức nhiều người khác.

William Edward Boeing

Như huyền thoại công nghiệp máy tính Bill Gates, William E. Boeing cũng bỏ dở đại học. Bắt đầu sự nghiệp trong khi hoàn toàn không biết gì về cơ khí máy bay, William E. Boeing đã dựng lên một doanh nghiệp mà sau này trở thành nhà sản xuất máy bay đứng đầu thế giới. Sinh năm 1881 trong gia đình một doanh nhân công nghiệp gỗ giàu có, William E. Boeing nghỉ ngang Đại học Yale năm 1903 và theo đuổi con đường kinh doanh như cha. Với công ty gỗ tại bang Washington, Boeing làm ăn thành công. Vài năm sau, khi học lái máy bay tại Los Angeles, Boeing bắt đầu mê hàng không. Từ lần đầu tiên lái máy bay năm 1914, Boeing bị ám ảnh bởi giấc mơ tự mình chế tạo con chim sắt. Tin rằng có thể làm ra chiếc máy bay tốt nhất thời điểm đó, Boeing mời kỹ sư George Conrad Westervelt (người thiết kế cho hãng xe B&W) dựng bản vẽ mô hình thuỷ phi cơ. Từ thành công trên, Boeing quyết định thành lập công ty Pacific Aero Products và sau đó đổi tên thành công ty máy bay Boeing. Năm 1917, khi biết hải quân Mỹ cần máy bay cho Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đặc biệt là thuỷ phi cơ, Boeing gửi máy bay của mình đến Florida để hải quân Mỹ thử nghiệm. Kết quả, đơn đặt hàng đầu tiên với 50 thuỷ phi cơ ra đời.

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc và quân đội Mỹ giảm nhu cầu máy bay, William E. Boeing phải trở lại nghề mộc (sản xuất nhiều mặt hàng sinh hoạt, giường, tủ, thuyền...). Dù vậy, hàng không vẫn là đam mê lớn nhất của Boeing. Ông tiếp tục đổ dồn công sức và thời gian cho nghiên cứu máy bay, đặc biệt là máy bay dân dụng. Ngày 3/3/1919, ông cùng phi công Eddie Hubbard bay trên chiếc máy bay thương mại đầu tiên (được đặt tên B-1), từ Seattle (Mỹ) đến Vancouver (Canada), thiết lập tuyến bay thư tín quốc tế đầu tiên trên thế giới. Năm 1927, Boeing vượt qua tất cả đối thủ và giành được hợp đồng phát thư giữa San Francisco và Chicago. Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển thư tín tăng nhanh, Boeing sản xuất máy bay vận tải 40-A và thành lập Boeing Air Transport (BAT).

Cuối thập niên 1920, Boeing đã trở thành một trong những công ty đứng đầu Mỹ về sản xuất máy bay. Năm 1934, khi chính phủ Roosevelt thông qua luật chống độc quyền (cấm các hãng vận chuyển thư tín hàng không nằm trong cùng công ty sản xuất máy bay), hoạt động thư tín hàng không của Boeing bị huỷ và Boeing phải chia doanh nghiệp thành nhiều công ty nhỏ. Dù vậy, trước khi qua đời năm 1956, Boeing đã xây dựng được một vương quốc khổng lồ, đưa công ty mình bước vào kỷ nguyên hàng không phản lực, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Boeing tung ra hàng trăm máy bay ném bom B-17 Flying Fortress và sau đó là B-52 Stratofortress. Đến nay, Boeing vẫn là nhà sản xuất máy bay lớn nhất thế giới. Công ty không chỉ chế tạo máy bay dân dụng mà còn sản xuất nhiều sản phẩm kỹ thuật quân sự, từ máy bay chiến đấu F/A-18 Hornet, trực thăng AH-64 Apache đến tên lửa Harpoon... Ở lĩnh vực hàng không dân dụng, Boeing tiên phong tung ra dòng máy bay jumbo (khổng lồ) với các thế hệ 727, 737, 747... Ở lĩnh vực không gian, Boeing chính là nơi sản xuất tên lửa đẩy Saturn đưa tàu vũ trụ Apollo lên mặt trăng...

Donald Douglas

Nổi tiếng không kém William E. Boeing, Donald Douglas cũng để lại dấu ấn đậm nét trong trang sử hàng không thế giới. Là con một thư ký ngân hàng người Scotland, Douglas thoạt đầu mê thuyền chứ không phải máy bay. Sau ba năm tại Học viện Hải quân Mỹ, Douglas chuyển đến Viện kỹ thuật Massachusetts (MIT) với chuyên ngành cơ khí hàng không. Douglas bắt đầu mê lĩnh vực chế tạo máy bay khi chứng kiến thành công của anh em nhà Wright. Từ lúc xem Orville Wright biểu diễn chiếc Flyer tại Fort Myer (bang Virginia) trước mặt giới chức quân đội Mỹ vào năm 1908, Douglas thật sự bị hàng không cuốn hút. Sau khi tốt nghiệp MIT và làm việc cho vài công ty, Douglas thành lập hãng riêng. Năm 1920, với 600 USD, Douglas đưa gia đình đến nam California, nơi thời tiết quanh năm thuận lợi cho thử nghiệm máy bay. Bắt đầu từ số vốn hỗ trợ 40.000 USD của người bạn David R. Davis, Douglas phác thảo mô hình máy bay Cloudster rồi khẳng định vị trí của mình trước đối thủ Boeing khi giành được hợp đồng sản xuất máy bay ném bom cho hải quân Mỹ. Công ty Douglas Aircraft chính thức ra đời.

Trong vài thập niên liên tiếp, cùng Boeing, Douglas Aircraft là nhà sản xuất máy bay dân dụng hàng đầu của Mỹ. Máy bay thương mại thành công nhất sản xuất từ Douglas Aircraft là chiếc DC-3. Tung ra năm 1936, DC-3 được nhiều người xem là ông tổ của máy bay dân dụng hiện đại. Đến cuối thập niên 1930, hơn 90% hành khách máy bay tại Mỹ đều sử dụng DC-3. Douglas ngồi ghế chủ tịch Douglas Aircraft đến năm 1957 và tham gia ban điều hành cho đến năm 1967, khi công ty sáp nhập với McDonell Aircraft để trở thành tập đoàn McDonell Douglas. 30 năm sau, 1997, McDonell Douglas sáp nhập vào Boeing.

Trong lĩnh vực hàng không dân dụng, một gương mặt nổi tiếng nữa là Juan Trippe, người mà báo Time trong ấn bản tổng kết thế kỷ 20 đánh giá là nhân vật "đóng góp quan trọng nhất cho công nghiệp hàng không dân dụng thế kỷ 20". Sáng lập hãng hàng không dân dụng Pan American Airways (Pan Am), Juan Trippe chính là nhà doanh nghiệp đầu tiên trên thế giới lập ra công thức kiểu mẫu cho kinh doanh hàng không dân dụng.

Frank Whittle

Sinh năm 1907 trong gia đình lao động tại Coventry (Anh), Frank Whittle thích máy bay từ hồi còn chập chững. Món đồ chơi ưa thích của cậu bé Whittle 4 tuổi là mô hình chiếc Bleriot XI. Mê trở thành phi công, Whittle gia nhập không quân Hoàng gia Anh (RAF) năm 15 tuổi (thoạt đầu bị từ chối nhưng được nhận vào 6 tháng sau, khi đạt chiều cao tiêu chuẩn). Tại RAF, Whittle là thợ học việc, trong khi chỉ 1% thợ học việc có cơ may trở thành sĩ quan thực thụ. Tuy nhiên, với năng khiếu toán học siêu việt, Whittle được chú ý và cuối cùng được chọn vào Đại học sĩ quan RAF. Tại đây, khi mới 21 tuổi, Whittle đã tạo ra bước ngoặt cho lịch sử hàng không với công trình nghiên cứu thành công động cơ phản lực.

Không như khi bay thấp, máy bay ở độ cao có thể bay nhanh và xa hơn, do ít bị ảnh hưởng của chấn động không khí. Tuy nhiên, khi cánh quạt nâng máy bay lên cao, động cơ piston lại bắt đầu hoạt động kém, bởi không khí loãng. Để vượt qua trở ngại trên, Whittle thiết kế cỗ máy nén không khí với buồng đốt trong, tạo ra luồng khí nóng làm quay turbine để có thể đưa máy bay không chỉ vọt lên cao mà còn bay nhanh. Whittle thuyết phục Bộ hàng không Anh nghiên cứu - chế tạo máy bay phản lực nhưng bị khước từ. 9 năm sau, khi nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ 2 lan rộng, bộ hàng không Anh mới tài trợ dự án chế tạo máy bay phản lực (đó cũng là thời điểm Whittle thành lập công ty riêng Power Jets).

Tuy nhiên, sự chậm chạp của Anh đã khiến Đức qua mặt với tuyên bố là quốc gia đầu tiên chế tạo và ứng dụng máy bay phản lực (chiếc Heinkel He 178, bay ngày 2/8/1939, với động cơ phản lực HeS 38). Thật mỉa mai, trong khi sáng chế Whittle bị bỏ xó tại Anh, ở Mỹ, người ta đánh giá rất cao tính thực tiễn của ứng dụng động cơ phản lực. Tệ hơn, London còn ra lệnh quốc hữu hoá công ty Power Jets của Whittle, sau khi hãng Rolls Royce tuyên bố họ đủ sức chế tạo động cơ phản lực. Mãi đến sau chiến tranh, khi muộn màng nhận ra tính độc đáo của kỹ thuật phản lực, chính phủ Anh mới trao giải thưởng Nhà sáng tạo cho Whittle cùng số tiền 100.000 bảng vào năm 1946. Whittle chia số tiền trên cho các nhân viên từng làm việc với mình tại Power Jets. Năm 1948, vua George VI phong Whittle tước hiệp sĩ. Đến lúc đó, người ta không còn có thể phủ nhận tầm quan trọng của động cơ phản lực. Với kỹ thuật tiên phong trong động cơ phản lực, Frank Whittle đã mở đầu cho kỷ nguyên hàng không dân dụng liên lục địa, tiết kiệm tiền cũng như thời gian cho những chuyến du hành thế giới, không chỉ cho hoạt động du lịch mà còn thương mại và mậu dịch...

(Theo Thế Giới Mới)

5 bệnh dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại

Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến những đại dịch khủng khiếp, số người tử vong vì bệnh dịch đôi khi còn cao hơn cả số người đã hy sinh trong các cuộc chiến.

Đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918
Năm 1918 khi cuộc chiến tranh thế giới lần 1 gần đến giai đoạn kết thúc, người ta ước tính có khoảng 37 triệu người thiệt mạng. Những người sống sót mau chóng trở về quê hương và họ không thể ngờ rằng, cuối năm đó, một nạn dịch được coi tồi tệ nhất từng được ghi lại trong lịch sử nhân loại đã bùng phát. Đại dịch cúm năm 1918 do một loại vi rút cúm mới, dòng vi rút cúm gia cầm H1N1 gây ra. 
Các nhà khoa học nghi ngờ rằng dịch bệnh này lây từ chim sang người ở vùng Trung Tây nước Mỹ. Sau này nó được gọi là cúm Tây Ban Nha sau khi làm chết 8 triệu người ở đây. Chỉ trong khoảng hai năm 1918-1919, cúm làm chết khoảng 40-50 triệu người, theo ước lượng gần đây con số này có thể lên đến khoảng 50-100 triệu. Các đợt chuyển quân và đường vận chuyển nhu yếu phẩm trong Thế chiến thứ nhất giúp vi rút lây truyền rất nhanh qua các châu lục. Dịch cúm Tây Ban Nha có các triệu chứng như cúm thường, bao gồm sốt, buồn nôn, đau khắp cơ thể và tiêu chảy. Nhiều vết đen cũng xuất hiện trên má người bệnh. Nạn nhân thường chết do bị tràn dịch màng phổi, khiến họ không thể thở được. Đại dịch biến mất trong vòng 1 năm, sau khi vi rút biến đổi thành một dạng ít nguy hiểm hơn.
Đại dịch Cái chết đen (1348-1350)
5 bệnh dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại
Đây được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại xảy ra ở châu Á và châu Âu. Từ năm 1348-1350, ước tính đã có khoảng 75 triệu người chết vì đại dịch, trong đó khoảng từ 25 đến 50 triệu là dân số châu Âu. Từ lâu "cái chết đen" được cho là sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis và lây lan thông qua loài bọ chét sống trên chuột đen. Một khi đã bị nhiễm vi khuẩn, bệnh nhân được ước tính là chỉ có thể sống sót trong vòng từ 60 đến 180 ngày.
 
Tuy nhiên thời gian gần đây một số học giả dựa vào những ghi chép dịch tễ học trong các tài liệu sử học đương thời đã cho rằng "cái chết đen" có nguồn gốc từ một loại vi rút gây xuất huyết tương tự vi rút ebola. Dạng bệnh này gây mất máu nghiêm trọng. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu xác của các nạn nhân với hi vọng tìm thấy các bằng chứng ủng hộ giả thuyết của mình. Cho tới nay căn bệnh này vẫn là một vấn nạn ở các khu vực tồi tàn và nhiều chuột. Các loại thuốc hiện đại có thể điều trị căn bệnh ở các giai đoạn đầu, khiến nó bớt nguy hiểm. Các triệu chứng của bệnh bao gồm sưng hạch bạch huyết, sốt, ho, nước dãi chứa máu và khó thở.
Đại dịch tả 1817
5 bệnh dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại
Từ thời cổ đại người dân Ấn Độ đã phải sống cùng với sự nguy hiểm đến từ dịch tả. Căn bệnh này xuất hiện châu Á khoảng 600 năm trước Công nguyên và ghi nhận lần đầu tiên trong y học vào năm 1563 tại Ấn Độ. Dịch xuất hiện đầu tiên từ các tuyến đường thương mại (trên đất liền và trên biển) đến Nga năm 1817, sau đó lan sang các phần còn lại của châu Âu, và từ châu Âu sang Bắc Mỹ. Tổng cộng đã có khoảng 7 trận đại dịch tả xảy ra trong vòng 200 năm lấy đi mạng sống của hàng triệu người. Tại miền Bắc Việt Nam thời Pháp thuộc, dịch tả giết chết 75.000 người vào năm 1937.
Theo khoa học dịch tả gây ra bởi một loại vi khuẩn đường ruột có tên là Vibrio cholerae. Khoảng 5% những người nhiễm bệnh trải qua các triệu chứng như nôn ọe, tiêu chảy và chuột rút, từ đó dẫn tới mất nước và sốc. Hầu hết các hệ miễn dịch đều chiến thắng được dịch tả, nhưng chỉ khi bệnh nhân được tiếp nước đủ để vượt qua giai đoạn này. Con người có thể bị lây qua đường tiếp xúc trực tiếp, nhưng thường dịch tả lây qua các nguồn nước và thức ăn nhiễm bẩn. Trong hàng chục năm, với những tiến bộ từ nghiên cứu khoa học có vẻ dịch tả đã là vấn đề của quá khứ. Tuy nhiên, một dòng dịch tả mới đã xuất hiện năm 1961 ở Indonesia và lan ra toàn thế giới. Dịch bệnh này tiếp tục kéo dài tới ngày nay. Năm 1991, dịch tả lây nhiễm trên 300 nghìn người và làm thiệt mạng 4000 người trong vòng 1 năm.
Đại dịch sốt rét
5 bệnh dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại
Căn bệnh này đã đeo bám loài người trong hàng thế kỉ, giết chết hàng nghìn người. Do thường xuất hiện ở các trại đóng quân, nó được gọi là chứng "sốt doanh trại" hay "sốt chiến tranh". Trong cuộc chiến 30 năm của châu Âu (1618-1648), sốt rét, bệnh dịch và nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 10 triệu người. Đôi khi các đợt dịch sốt rét có thể ảnh hưởng tới kết quả của cả một trận chiến. Khi quân Tây Ban Nha bao vây thành Granada năm 1489, một trận dịch sốt rét đã làm lực lượng tấn công từ 25 nghìn người giảm còn 8000 người chỉ trong 1 tháng. Do dịch sốt rét mà người Tây Ban Nha phải mất thêm 1 thế kỷ để đánh đuổi người Moor gốc Bắc Phi khỏi đất nước mình. Ngay trong Thế chiến thứ nhất, bệnh sốt rét đã làm chết hàng triệu người ở Nga, Ba Lan và Rumani.
Các triệu chứng thường gặp của bệnh gồm đau đầu, chán ăn, tăng thân nhiệt nhanh. Nó nhanh chóng chuyển thành cơn sốt, kèm theo các đợt lạnh và buồn nôn. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ ảnh hưởng tới lưu thông máu, tạo ra các đốm hoại tử, viêm phổi và suy thận. Thân nhiệt cao sẽ gây mê sảng, hôn mê và trụy tim. Các phương pháp điều trị hiện đại đã giảm ảnh hưởng của sốt rét với con người. Việc phát minh ra vaccine trong Thế chiến thứ hai và việc sử dụng thuốc DDT diệt muỗi đã tiêu diệt hoàn toàn căn bệnh này ở các nước phát triển. Tuy nhiên, các đợt dịch vẫn bùng phát ở Nam Mỹ, châu Phi và châu Á.
 
Đại dịch đậu mùa
 
5 bệnh dịch kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại
Đứng đầu trong số các dịch bệnh phải kể tới là bệnh đậu mùa gây ra bởi vi rút đậu mùa. Các vi khuẩn này gây ảnh hưởng tới con người từ hàng nghìn năm trước với tỷ lệ tử vong lên tới 30%. Bệnh đậu mùa gây sốt cao, đau nhức cơ thể, phát ban với mụn cứng hoặc mụn mủ. Người bình thường nếu tiếp xúc với da người bệnh hoặc dính phải các chất dịch từ cơ thể họ có thể bị lây nhiễm. Thậm chí bệnh cũng có thể lan truyền qua việc hít phải các vi rút trong không khí, thường từ các dịch từ vùng họng, mũi, niêm mạc họng của người nhiễm bệnh. Mặc dù vắc xin phòng bệnh đã được điều chế thành công từ năm 1796 nhưng dịch bệnh vẫn tiếp tục hoành hành.
 
Gần đây nhất là năm 1967, theo ước tính của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có khoảng 15 triệu người nhiễm bệnh và 2 triệu người trên thế giới tử vong vì căn bệnh này. Cùng năm đó tổ chức này đã đứng đầu trong việc nỗ lực tiêu diệt vi rút trên thông qua việc tiêm chủng hàng loạt. Kết quả là cuối năm 1979, WHO chứng nhận đã tiêu diệt hoàn toàn được bệnh đậu mùa.
Lịch sử Việt Nam cũng trải qua nhiều phen điêu đứng vì dịch bệnh đậu mùa.
Phan Hạnh
Theo Discovery

Lịch sử cây cầu dài nhất thế giới

Cầu 7 dặm không chỉ được xem là một trong những chiếc cầu dài nhất thế giới, mà nó còn là công trình vượt thời gian của Mỹ.

Ngày nay, chiếc cầu còn là một địa điểm du lịch khá nổi tiếng của bang Florida thu hút đông đảo du khách mỗi năm.
“Cầu 7 dặm” thực sự là một chiếc cầu biểu tượng cho quần đảo Florida Keys, thuộc tiểu bang Florida, Mỹ. Cầu nằm trải dài giữa vùng biển nối liền từ Knights Key thuộc Middle Keys tới Little Duck Key thuộc Lower Keys.
Vào thời điểm năm 1982 khi chiếc cầu được hoàn thành, cầu 7 dặm được xem là chiếc cầu bê tông cốt thép dài nhất trên thế giới.
Cầu 7 dặm thực chất gồm 2 chiếc cầu được xây dựng song song tại cùng một địa điểm. Chiếc cầu cũ được biết đến như là chiếc cầu kênh nối Knights Key - Pigeon Key –Kênh Moser  - Pacet. Cầu cũ được xây dựng từ năm 1909 và hoàn thành năm 1912, đóng vai trò như một đường ray trên biển.
Sau trận bão “Labor Day” năm 1935 (trận bão xảy ra vào ngày Quốc tế Lao động 1/5/1935), chiếc cầu bị hư hại nặng và sau đó đã được tân trang lại làm đường ô tô chạy. Đường ray tàu hòa được tháo dỡ để làm chắn song bảo vệ và sơn lại màu trắng.
Một đoạn của cầu được thiết kế để mở nhằm cho phép tàu thuyền di chuyển qua, gần chỗ đi qua Pigeon Key là một hòn đảo nhỏ - nơi này từng là nơi đặt lán làm việc cho công nhân làm đường ray bờ biển Đông Florida.
Khi trận bão “
Khi trận bão “Donna” năm 1960 dáng xuống đã làm cho cầu hư hại nặng hơn, lúc này chính quyền bang mới quyết định xây mới thêm một chiếc cầu nữa, đó chính là một chiếc cầu 7 dặm ngày nay. Chiếc cầu mới rộng hơn và vững chắc hơn được xây dựng vào năm 1978 và đến 1982 thì hoàn thành. Tổng chiều dài của chiếc cầu mới chỉ khoảng chưa đầy 7 dặm (10.93km), ngắn hơn so với chiếc cầu cũ.
Cách đây 2 năm, một nhóm cộng đồng phi lợi nhuận được gọi là
Cứ vào tháng Tư thì cầu 7 dặm ngừng hoạt động trong khoảng 2.5 tiếng đồng hồ vào ngày chủ nhật và ngày hội “vui chạy” – đây được xem như là ngày hội chạy bộ truyền thống của chiếc cầu 7 dặm. Trong ngày hội có khoảng 1.500 vận động viên tham gia với mục đích kỷ niệm dự án tái xây dựng cầu nối Florida Keys.
Sự kiện này bắt đầu vào năm 1982 để kỷ niệm ngày hoàn thành chương trình xây dựng cầu liên bang thay thế những nhịp cầu mà ông trùm dầu mỏ Henry Flagler đã xây dựng trong những năm đầu 1990.
Khi trận bão “
Mặc dù cầu 7 dặm mới được xây dựng lên nhưng chiếc cầu cũ vẫn là một địa điểm phổ biến với cả những người dân địa phương và khách du lịch. Nhiều đoạn của chiếc cầu cũ đang dần xuống cấp và hư hỏng nghiêm trọng. Nước muối và giông bão đã làm thời gian xói mòn nhanh hơn là thời gian trùng tu cầu. Nhiều đoạn của chiếc cầu này cũng đã bị dừng sử dụng, chỉ còn khoảng 2.2 dặm (hơn 3.54km) của chiếc cầu cũ vẫn đang được sử dụng dành cho người đi bộ hoặc đi xe đạp.
Cách đây 2 năm, một nhóm cộng đồng phi lợi nhuận được gọi là
Cách đây 2 năm, một nhóm cộng đồng phi lợi nhuận được gọi là “Friends of Old Seven” (tạm hiểu: Những người bạn của chiếc cầu 7 dặm cũ) đã cố gắng trùng tu lại nhiều đoạn cầu, và nếu được họ có thể trùng tu lại toàn bộ cầu. Phòng Giao thông Vận tải của bang Florida cũng không thể có số tiền lớn để sửa lại chiếc cầu, tuy nhiên Phòng vẫn sẵn sàng ủng hộ số tiền khoảng từ 18 triệu USD đến 20 triệu USD để sửa cầu.
Một số hình ảnh về chiếc cầu 7 dặm:
Đình Kiên

Khi trận bão “

Khi trận bão “

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Đình Kiên

Cách đây 2 năm, một nhóm cộng đồng phi lợi nhuận được gọi là

Cách đây 2 năm, một nhóm cộng đồng phi lợi nhuận được gọi là

Đình Kiên

 
Đình Kiên
Theo Amusingplanet

Top