Sau thời anh em Wright, diện mạo thế giới đã thay đổi với sự xuất hiện của ngành hàng không dân dụng. Thế giới trở nên nhỏ bé hơn và khoảng cách địa lý gần như chỉ tồn tại trên bản đồ. Trong lịch sử ngành hàng không, ngoài thành tựu cột mốc của anh em Wright, còn phải kể đến công sức nhiều người khác.
William Edward Boeing
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc và quân đội Mỹ giảm nhu cầu máy bay, William E. Boeing phải trở lại nghề mộc (sản xuất nhiều mặt hàng sinh hoạt, giường, tủ, thuyền...). Dù vậy, hàng không vẫn là đam mê lớn nhất của Boeing. Ông tiếp tục đổ dồn công sức và thời gian cho nghiên cứu máy bay, đặc biệt là máy bay dân dụng. Ngày 3/3/1919, ông cùng phi công Eddie Hubbard bay trên chiếc máy bay thương mại đầu tiên (được đặt tên B-1), từ Seattle (Mỹ) đến Vancouver (Canada), thiết lập tuyến bay thư tín quốc tế đầu tiên trên thế giới. Năm 1927, Boeing vượt qua tất cả đối thủ và giành được hợp đồng phát thư giữa San Francisco và Chicago. Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển thư tín tăng nhanh, Boeing sản xuất máy bay vận tải 40-A và thành lập Boeing Air Transport (BAT).
Cuối thập niên 1920, Boeing đã trở thành một trong những công ty đứng đầu Mỹ về sản xuất máy bay. Năm 1934, khi chính phủ Roosevelt thông qua luật chống độc quyền (cấm các hãng vận chuyển thư tín hàng không nằm trong cùng công ty sản xuất máy bay), hoạt động thư tín hàng không của Boeing bị huỷ và Boeing phải chia doanh nghiệp thành nhiều công ty nhỏ. Dù vậy, trước khi qua đời năm 1956, Boeing đã xây dựng được một vương quốc khổng lồ, đưa công ty mình bước vào kỷ nguyên hàng không phản lực, đặc biệt từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, khi Boeing tung ra hàng trăm máy bay ném bom B-17 Flying Fortress và sau đó là B-52 Stratofortress. Đến nay, Boeing vẫn là nhà sản xuất máy bay lớn nhất thế giới. Công ty không chỉ chế tạo máy bay dân dụng mà còn sản xuất nhiều sản phẩm kỹ thuật quân sự, từ máy bay chiến đấu F/A-18 Hornet, trực thăng AH-64 Apache đến tên lửa Harpoon... Ở lĩnh vực hàng không dân dụng, Boeing tiên phong tung ra dòng máy bay jumbo (khổng lồ) với các thế hệ 727, 737, 747... Ở lĩnh vực không gian, Boeing chính là nơi sản xuất tên lửa đẩy Saturn đưa tàu vũ trụ Apollo lên mặt trăng...
Donald Douglas
Nổi tiếng không kém William E. Boeing, Donald Douglas cũng để lại dấu ấn đậm nét trong trang sử hàng không thế giới. Là con một thư ký ngân hàng người Scotland, Douglas thoạt đầu mê thuyền chứ không phải máy bay. Sau ba năm tại Học viện Hải quân Mỹ, Douglas chuyển đến Viện kỹ thuật Massachusetts (MIT) với chuyên ngành cơ khí hàng không. Douglas bắt đầu mê lĩnh vực chế tạo máy bay khi chứng kiến thành công của anh em nhà Wright. Từ lúc xem Orville Wright biểu diễn chiếc Flyer tại Fort Myer (bang Virginia) trước mặt giới chức quân đội Mỹ vào năm 1908, Douglas thật sự bị hàng không cuốn hút. Sau khi tốt nghiệp MIT và làm việc cho vài công ty, Douglas thành lập hãng riêng. Năm 1920, với 600 USD, Douglas đưa gia đình đến nam California, nơi thời tiết quanh năm thuận lợi cho thử nghiệm máy bay. Bắt đầu từ số vốn hỗ trợ 40.000 USD của người bạn David R. Davis, Douglas phác thảo mô hình máy bay Cloudster rồi khẳng định vị trí của mình trước đối thủ Boeing khi giành được hợp đồng sản xuất máy bay ném bom cho hải quân Mỹ. Công ty Douglas Aircraft chính thức ra đời.
Trong vài thập niên liên tiếp, cùng Boeing, Douglas Aircraft là nhà sản xuất máy bay dân dụng hàng đầu của Mỹ. Máy bay thương mại thành công nhất sản xuất từ Douglas Aircraft là chiếc DC-3. Tung ra năm 1936, DC-3 được nhiều người xem là ông tổ của máy bay dân dụng hiện đại. Đến cuối thập niên 1930, hơn 90% hành khách máy bay tại Mỹ đều sử dụng DC-3. Douglas ngồi ghế chủ tịch Douglas Aircraft đến năm 1957 và tham gia ban điều hành cho đến năm 1967, khi công ty sáp nhập với McDonell Aircraft để trở thành tập đoàn McDonell Douglas. 30 năm sau, 1997, McDonell Douglas sáp nhập vào Boeing.
Trong lĩnh vực hàng không dân dụng, một gương mặt nổi tiếng nữa là Juan Trippe, người mà báo Time trong ấn bản tổng kết thế kỷ 20 đánh giá là nhân vật "đóng góp quan trọng nhất cho công nghiệp hàng không dân dụng thế kỷ 20". Sáng lập hãng hàng không dân dụng Pan American Airways (Pan Am), Juan Trippe chính là nhà doanh nghiệp đầu tiên trên thế giới lập ra công thức kiểu mẫu cho kinh doanh hàng không dân dụng.
Frank Whittle
Sinh năm 1907 trong gia đình lao động tại Coventry (Anh), Frank Whittle thích máy bay từ hồi còn chập chững. Món đồ chơi ưa thích của cậu bé Whittle 4 tuổi là mô hình chiếc Bleriot XI. Mê trở thành phi công, Whittle gia nhập không quân Hoàng gia Anh (RAF) năm 15 tuổi (thoạt đầu bị từ chối nhưng được nhận vào 6 tháng sau, khi đạt chiều cao tiêu chuẩn). Tại RAF, Whittle là thợ học việc, trong khi chỉ 1% thợ học việc có cơ may trở thành sĩ quan thực thụ. Tuy nhiên, với năng khiếu toán học siêu việt, Whittle được chú ý và cuối cùng được chọn vào Đại học sĩ quan RAF. Tại đây, khi mới 21 tuổi, Whittle đã tạo ra bước ngoặt cho lịch sử hàng không với công trình nghiên cứu thành công động cơ phản lực.
Không như khi bay thấp, máy bay ở độ cao có thể bay nhanh và xa hơn, do ít bị ảnh hưởng của chấn động không khí. Tuy nhiên, khi cánh quạt nâng máy bay lên cao, động cơ piston lại bắt đầu hoạt động kém, bởi không khí loãng. Để vượt qua trở ngại trên, Whittle thiết kế cỗ máy nén không khí với buồng đốt trong, tạo ra luồng khí nóng làm quay turbine để có thể đưa máy bay không chỉ vọt lên cao mà còn bay nhanh. Whittle thuyết phục Bộ hàng không Anh nghiên cứu - chế tạo máy bay phản lực nhưng bị khước từ. 9 năm sau, khi nguy cơ chiến tranh thế giới lần thứ 2 lan rộng, bộ hàng không Anh mới tài trợ dự án chế tạo máy bay phản lực (đó cũng là thời điểm Whittle thành lập công ty riêng Power Jets).
Tuy nhiên, sự chậm chạp của Anh đã khiến Đức qua mặt với tuyên bố là quốc gia đầu tiên chế tạo và ứng dụng máy bay phản lực (chiếc Heinkel He 178, bay ngày 2/8/1939, với động cơ phản lực HeS 38). Thật mỉa mai, trong khi sáng chế Whittle bị bỏ xó tại Anh, ở Mỹ, người ta đánh giá rất cao tính thực tiễn của ứng dụng động cơ phản lực. Tệ hơn, London còn ra lệnh quốc hữu hoá công ty Power Jets của Whittle, sau khi hãng Rolls Royce tuyên bố họ đủ sức chế tạo động cơ phản lực. Mãi đến sau chiến tranh, khi muộn màng nhận ra tính độc đáo của kỹ thuật phản lực, chính phủ Anh mới trao giải thưởng Nhà sáng tạo cho Whittle cùng số tiền 100.000 bảng vào năm 1946. Whittle chia số tiền trên cho các nhân viên từng làm việc với mình tại Power Jets. Năm 1948, vua George VI phong Whittle tước hiệp sĩ. Đến lúc đó, người ta không còn có thể phủ nhận tầm quan trọng của động cơ phản lực. Với kỹ thuật tiên phong trong động cơ phản lực, Frank Whittle đã mở đầu cho kỷ nguyên hàng không dân dụng liên lục địa, tiết kiệm tiền cũng như thời gian cho những chuyến du hành thế giới, không chỉ cho hoạt động du lịch mà còn thương mại và mậu dịch...
(Theo Thế Giới Mới)

Không có nhận xét nào: