ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Style5

Style5

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Trừng trị quan tham dưới triều vua Minh Mạng

Thời vua Minh Mạng, chuyện chống tham nhũng, trị bọn quan tham được vị vua này thực hiện một cách quyết liệt.

Trong lịch sử phong kiến nước Việt, Minh Mạng (1791 – 1841), tức Nguyễn Thánh Tổ, là vị Hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1820 đến năm 1840. Ông là một vị vua năng động quyết đoán, đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. 
Bộ Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1963, tập IV, có 2 đoạn sử cho thấy thái độ kiên quyết của vị vua này, đó là những bài học mà đến hôm nay không phải không còn giá trị.
Điều 229 của Bộ luật Gia Long có một điều khoản quy định cách xử tội những người ăn cắp tài sản của nhà nước.
"Kho của vua gọi là Nội phủ, nó ở trong cấm địa của Hoàng thành. Hễ lấy trộm món gì ở đó dù nhiều hay ít đều bị tội chém đầu", một đoạn ghi trong bộ luật.
Dưới thời vua Gia Long trị vì (1802 - 1819) đã xảy ra một vụ gian lận, lấy cắp tài sản chứa trong nội phủ và những thủ phạm đã bị chém đầu.
Vua Minh Mạng (Chân dung Minh Mạng theo minh họa trong sách của John Crawfurd (xuất bản năm 1828).
Đến thời vua Minh Mạng trị vì (1820 - 1840) lại diễn ra cảnh hoàng kim hắc thế tâm (vàng làm đen tối lòng người). Vào tháng 5/1823, quan Lý Hữu Diệm làm việc tại phủ nội vụ, lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Thay bằng tuyên án chém đầu, bộ Hình thấy đây là một ông quan đã ít nhiều có công trạng nên giảm xuống thành tội bắt đi đày viễn xứ.

Vụ án được tâu lên vua, vua Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của bộ Hình là giảm án và nhà vua ra lệnh cho bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình. 
"Thư lại Nội vụ phủ là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng. Bộ Hình nghĩ xử tội chém chuẩn làm tội đồ. Án tâu lên, vua dụ rằng: Khoảng năm Gia Long, bọn Nguyễn Đăng Được thông đồng với thợ bạc là bọn Nguyễn Khoa Nguyên đúc trộm ấn giả, để trộm đổi ấn cất ở kho, đều xử chém ngay. Nay Hữu Diệm ở đấy cân vàng mà còn dám công nhiên lấy trộm, huống chi của kho thì sao?

Thế là trong mắt hắn không có pháp luật. Chi bằng theo đúng tội danh mà định tội để răn người sau.
Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết. Hồ Hữu Thẩm phải truyền cho bọn viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?", nội dung đoạn văn.

Vụ gian lận thứ 2 xảy ra vào tháng 11/1831 cũng được ghi chép lại như sau, Lũ Nguyễn Đức Tuyên, tư vụ Nội vụ phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc phát giác, Vua dụ rằng: "Lai dịch các kho phần nhiều là kẻ tham lam hèn mạt, bớt xén, dối trá, chẳng thiếu cách gì. Xảy ra đến đâu trừng phạt đến đấy, đã chiếu luật làm tội nặng, lại nhiều lần truyền dụ, dạy bảo hầu đến rát cổ họng. Cốt muốn cho kẻ gian đổi lòng đổi dạ, trở thành lương thiện, thế mà không ngờ lòng người khác xưa, ngày thêm gian giảo! Năm nay có vụ án ăn cắp sơn ở Vũ khố, đã đem nhẹ thành nặng vì khinh nhờn pháp luật, lừa dối vua. Kẻ phạm tội ấy đã bị xử tử, lại phải chặt một tay để treo ở cửa kho.
Gần đây lại xảy ra vụ án mất trộm sa đoạn và hổ phách, hiện đương sai tra xét rất khẩn cấp. Nay sai dâng nhựa thơm thì ra lũ Nguyễn Đức Tuyên đã ăn bớt từ trước, lại dám lấy mật trộn lẫn vào để ít hóa nhiều, ý định lừa gạt che giấu. Trước còn chối cãi, đến lúc cả kho xưng ra, mới chịu thổ lộ thực tình, thì những người tai nghe mắt thấy ai mà không ghét.
Vả lại vụ mất sơn chưa nguôi, án sa đoạn, hổ phách còn nóng hổi, chúng nó mù điếc, sao lại mất hết lương tâm, cố ý phạm tội như thế. Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian".
Muốn nước thịnh dân cường, thì một trong những việc làm hiệu quả là nghiêm trị những kẻ "sâu dân mọt nước". Có quyết liệt nhưng đó là sự cần thiết, bởi giặc “nội xâm” (chữ dùng của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp) nguy hiểm cũng không kém gì giặc ngoại xâm. 

Theo Hai Miệt Vườn/Dân Việt 

Chuyện duyên tình lạ lùng trong Hoàng tộc nhà Nguyễn

Ở triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, để giữ gìn ngôi báu, khá nhiều chuyện lạ lùng đã xảy ra trong duyên tình của các vị vua, chúa.

Cuộc tình vương giả, anh em đồng đường
Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát là người có công xây dựng Đô thành Phú Xuân vào giữa thế kỷ 18, đồng thời cũng là người đưa dần sự nghiệp của các chúa Nguyễn xuống vực thẳm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thảm họa đó là do cuộc tình vương giả anh em đồng đường lấy nhau.
Sử chép: Võ Vương có một người cậu ruột là ngoại tả Trương Phúc Loan. Được Võ Vương tin cậy, trao cho rất nhiều quyền bính, nhưng Loan vẫn chưa vừa lòng. Vốn là một tay gian hùng, tham lam, tàn nhẫn và thủ đoạn, Loan có thể làm bất cứ điều gian ác nào để có thêm quyền hành và của cải.
Hành vi thâm độc nhất của Loan là đẩy đứa cháu mình đang ở ngôi vương (Võ Vương) vào vòng loạn luân. Cô em con chú của Võ Vương là Công nữ Ngọc Cầu (ái nữ của Nguyễn Phúc Điền, con thứ 12 của Nguyễn Phúc Thụ), sinh năm 1734, có nhan sắc kiều diễm trang đài của một giáng tiên.

Một vị vua trị vì triều Nguyễn (ảnh minh họa).
Biết Vương là người hiếu sắc, Loan tìm cách tạo điều kiện cho Ngọc Cầu thường xuyên ra vào trong Vương phủ và gần gũi với ông anh đồng đường Võ Vương ở điện Trường Lạc. Kết quả của những lần gần gũi đó là Ngọc Cầu đã có với Võ Vương hai công tử là Nguyễn Phúc Diệu (1753) và Nguyễn Phúc Thuần (1754).
Mặc dù được cậu Trương Phúc Loan che chở nhưng Võ Vương không thoát khỏi mặc cảm loạn luân. Công tử Nguyễn Phúc Diệu mất sớm, Công tử Nguyễn Phúc Thuần được Võ Vương cho nuôi nấng một cách lén lút ở hậu cung và dĩ nhiên Thuần không được lập làm kế tử như mong muốn của Ngọc Cầu, vì việc lập kế tử đã được chọn lựa và đã quyết định rồi.
Theo nguyên tắc công tử Chương (con cả Võ Vương) là kế tử. Chẳng may, Chương thọ bệnh đã thất lộc, con của Chương còn quá nhỏ nên Võ Vương chọn người thứ hai là Nguyễn Phúc Luân (tức là hoàng khảo của vua Gia Long sau này) làm kế tử.
Ngày Võ Vương mất (7/7/1765), Nguyễn Phúc Thuần mới mười hai tuổi. Lúc đó ai cũng tưởng là đệ nhị công tử Nguyễn Phúc Luân, đương kim kế tử sẽ lên ngôi vương, không ngờ trong nội cung đang có âm mưu khác.
Ngoại tả Trương Phúc Loan cùng thái giám Chữ Đức và Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống mật bàn việc giành ngôi cho công tử thứ 16 là Nguyễn Phúc Thuần (con bà Ngọc Cầu). Nguyễn Phúc Luân bị tống ngục và bức tử chết trong ngục. Nguyễn Phúc Thuần được nối ngôi chúa tức Duệ Tông Hiếu Định Hoàng Đế.
Năm 1774, Duệ Tông bị quân Trịnh đánh đuổi chạy vào Gia Định và bị giết, bà Ngọc Cầu ở lại Phú Xuân, buồn sự đời bà lập chùa Phước Thành ở bờ nam sông An Cựu để tu, dứt bỏ cuộc đời trần tục. 
Đến mùa hạ năm Giáp Tý (1803) bà mất, hưởng thọ 71 tuổi, được vua Gia Long sách tặng là Tuệ (Huệ) Tĩnh thánh mẫu nguyên sư, hiệu là Thiệu Long giáo chủ, lăng táng ngay sau khuôn viên chùa Phước Thành, theo kiểu hình tháp của nhà Phật.
Lấy cô làm “thứ phi”
Vua Thành Thái có nhiều phi tần. Duy chỉ có hai bà thứ phi cuối cùng từng sống với nhà vua suốt thời gian ông bị lưu đày ở đảo Réunion cũng như những năm cuối đời ở Sài Gòn nên được nhà vua sủng ái nhất.
Chuyện duyên tình lạ lùng trong Hoàng tộc nhà Nguyễn
Hai bà thứ phi của vua Thành Thái: Giai Triệu (bà Nhàn) và Chí Lạc (bà Mừng) cùng ông Ưng Quang - em trai.
Đó là bà Giai Triệu và bà Chí Lạc. Bà Giai Triệu là thân mẫu của Hoàng nam Vĩnh Chương (1907 - 1848), trong thời gian ở đảo Réunion bà sinh thêm Vĩnh Giêu (1924, hiện ở Houston Hoa Kỳ). Bà Chí Lạc là thân mẫu 5 hoàng nam, hai người sinh trong nước Vĩnh Lưu (1907 - 1948), Vĩnh Quỳnh (1915, mất sớm), ba người sinh ở Réunion: Vĩnh Khôi (1919 - 1969), Vĩnh Giu (1922 - 2007), Vĩnh Cầu (1924).
Điểm đặc biệt là hai bà Giai Triệu và Chí Lạc là chị em ruột, tên thật là Công Tằng Tôn nữ Nhàn và Công Tằng Tôn nữ Mừng, chắt nội của vua Minh Mạng. Trong Hoàng tộc, hai bà ngang hàng với bên nam giới có chữ lót Ưng, tức là hai bà thuộc hàng cô của Cựu hoàng Thành Thái (con của vua Dục Đức).
Để giấu chuyện không hay này, Hoàng tộc đã đổi họ cho hai bà sang họ Hồ nhưng rồi cũng không ổn nên đổi một lần nữa đổi sang họ Nguyễn Công. Bia mộ của hai bà hiện nay ở An Lăng đều khắc họ của hai bà là Nguyễn Công.
Tuy trên bia được khắc như vậy, nhưng đây là vấn đề đã thuộc về lịch sử nên trong gia đình các vua Thành Thái, Duy Tân cũng không che giấu sự thật đó.

Theo Hai Miệt Vườn/Dân Việt 

Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam

Đặc điểm chung của các võ sĩ Trà Kha trước khi vào trận đều bái lạy 4 hướng bằng những động tác kỳ quái. Khi lâm trận họ lầm lì đánh, lầm lì chịu đòn và thân hình rắn chắc như sắt.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, phong trào võ thuật miền Nam bước vào giai đoạn sôi động, các võ sĩ Trà Kha đã để lại dấu ấn khá mạnh mẽ trong giới võ lâm.
Điều lạ là những võ sinh Trà Kha đều rất kín tiếng khi được hỏi về môn phái. Họ tự rút vào một thế giới riêng biệt. Vì vậy, người “ngoại đạo” hầu như không biết gì về họ.
Những trận thượng đài bạt vía khán giả
Chúng tôi có cơ duyên gặp gỡ và hầu chuyện cùng đại lão võ sư Ba Cao Lãnh (1902 - 2005) trước khi ông về cõi vĩnh hằng. Trong làng võ miền Tây Nam Bộ, rất nhiều người nghe tiếng tăm Ba Cao Lãnh nhưng ít ai có dịp gặp mặt vì ông bắt đầu mai danh ẩn tích từ năm 1969 tại Cao Lãnh (Đồng Tháp).
Võ sư Mã Thành Long (tức Huỳnh Kim Hên), người gốc Trà Kha.
Từ năm 15 tuổi ông đã được đại sư Bảy Hớn, một truyền nhân võ phái Thất Sơn Thần Quyền trên núi Cấm (An Giang) thu nhận làm đồ đệ. Sau khi sư phụ Bảy Hớn qua đời, ông Ba Cao Lãnh trở thành người giữ lá cờ truyền nhân bí pháp.
Theo lời kể của võ sư Ba Cao Lãnh thì vào năm 1917, sau khi nhập môn mấy ngày, ông đã có dịp chứng kiến một trận thư hùng kinh hãi giữa môn phái Thất Sơn Thần Quyền và một môn phái lạ do võ sư No Sa ở Bạc Liêu làm trưởng môn. Cuộc tỷ thí võ đài này là do chính No Sa khởi xướng, thách đấu.
Theo quy ước, "tỷ thí võ đài" khác với "thi đấu võ đài". Một trận đấu võ đài có phân hiệp để võ sĩ lấy sức. Thắng, thua được tính bằng điểm số do trọng tài chấm. Còn "tỷ thí" thì đánh đến khi đối phương xin thua hoặc ngất, chết. Bên cạnh dây đài, 2 phe để sẵn chiếc hòm. Bên nào có người bị thương, bị chết tự lo liệu thuốc men, chôn cất, không bên nào được thưa kiện ra chính quyền. Nếu bị pháp luật truy cứu, bên này phải làm tờ bãi nại cho bên kia.
Ông Ba Cao Lãnh là tân võ sinh nên được miễn đấu mà chỉ lo việc trà nước.
Bảy Hứa (năm 1966 là Ủy viên Tổng hội Võ thuật Thất Sơn An Giang) là huynh trưởng của môn phái được sư phụ Bảy Hớn phân nhiệm vụ giao đấu với huynh trưởng của phái No Sa là No Sa Dam. Vào cuộc đấu, Bảy Hứa chiếm thế thượng phong vì nhanh nhẹn hơn No Sa Dam. Chỉ sau vài chiêu, mặt No Sa Dam đã tóe máu bởi mấy cú đánh chỏ cật lực của Bảy Hứa. Với người thường, bị trúng đòn như vậy có thể đã mất mạng.
Thế nhưng, No Sa Dam vẫn cứ lầm lì nhào vô. Bảy Hứa dùng một thế võ cận chiến vật cổ No Sa Dam xuống đất rồi chắp 2 tay lại bổ vào be sườn đối phương liên tục. Những cú bổ như trời giáng chạm vào be sườn No Sa Dam ép vào lồng phổi thành tiếng "ình ình" như tiếng trống bể. Sau hàng chục cú "bổ củi", thấy No Sa Dam nằm im, Bảy Hứa tưởng đối phương đã chết nên đứng dậy.
Tuy nhiên, No Sa Dam vẫn lừng lững đứng lên, cắm đầu vào đánh tiếp. Thấy đối phương tóe máu, Bảy Hứa cảm thấy tội nghiệp nên không ra đòn hiểm nữa mà đánh cầm chừng. Tận dụng kẽ hở đó, No Sa Dam tung cú phản đòn khiến Bảy Hứa lăn quay ra đất bất tỉnh. Dù vậy, No Sa Dam vẫn hùng hục đánh vào thân hình mềm nhũn của Bảy Hứa. Sư phụ Bảy Hớn phải tung khăn vào võ đài cho đệ tử xin thua nhưng No Sa Dam vẫn tiếp tục hì hục bẻ tay, bẻ chân kẻ thua cuộc.
Bảy Hớn đành chắp hai tay trước ngực xin với No Sa. No Sa truyền lệnh cho đệ tử bằng một câu thần chú. Khi ấy, No Sa Dam như sực tỉnh, buông Bảy Hứa ra rồi… đổ xuống đất ngất xỉu.
Bảy Hứa bị bẻ gãy lòi cả hai tay, phải điều trị nửa năm trời mới hồi phục.
Sau cuộc đấu mấy ngày, sư phụ Bảy Hớn mới cho các đệ tử biết, No Sa là truyền nhân của môn phái Trà Kha. Còn Bảy Hứa, trong những ngày dưỡng thương kể lại rằng, lúc giao đấu, tay ông chạm vào người No Sa Dam giống như chạm vào gốc cây. Sau mỗi cú đánh trúng vào người No Sa Dam, tay ông tê dại.
Sau này, No Sa Dam sang Phnôm Pênh, Campuchia mở một võ đường Trà Kha rất lớn. Trước năm 1975, có dạo, ông No Sa Dam được giới võ thuật Campuchia bầu làm Chủ tịch Tổng hội Võ thuật Campuchia. No Sa Dam đào tạo được rất nhiều thế hệ võ sĩ giỏi như No Sa Long, No Sa Lieng….
Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam
Chùa Sala Pothy Chum nằm trong xóm Trà Kha.
Năm 1925, phong trào võ thuật tại Sài Gòn bỗng dưng phát triển mạnh mẽ. Hàng tuần, Tổng hội Võ thuật đều tổ chức võ đài quốc tế tại võ đường Việt Nam Tinh Võ Học Hiệu (Hiện nay ở số 756, Nguyễn Trãi, quận 5, TP HCM) cho các võ sinh khắp miền Nam giao lưu với các võ sĩ khắp khu vực châu Á. 
Các võ đường hiện diện tại miền Nam thi nhau tung đồ đệ thượng đài để quảng bá môn phái của mình. Hàng trăm môn phái Thiếu lâm Bắc phái, Thiếu Lâm Nam phái, Võ Cổ truyền Việt Nam liên tục đưa võ sĩ ra giao đấu với các võ sĩ từ các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Hồng Kông…
Thậm chí, thỉnh thoảng một số quốc gia phương Tây như Pháp, Mỹ cũng đưa võ sinh sang Việt Nam thi đấu. Nhiều môn phái đã tạo được danh tiếng cho mình ở các cuộc thi đấu này. 
Trong những cuộc thượng đài đó, thỉnh thoảng, người ta lại thấy một võ sĩ môn phái Trà Kha xuất hiện tạo một cơn sóng dư luận trong làng võ rồi biệt tăm. Trong đó có người xưng là học trò của Phan Phát Sanh (tức Phan Xích Long), có người giới thiệu là đệ tử một võ sư không ai biết tên tuổi. 
Đặc điểm chung của những võ sĩ Trà Kha trước khi vào trận đều bái lạy 4 hướng bằng những động tác kỳ quái. Khi lâm trận họ lầm lì đánh, lầm lì chịu đòn và thân hình rắn chắc như sắt.
Không ai biết, môn phái này xuất xứ từ đâu. Trước năm 1925, chưa ai từng thấy võ sinh môn phái Trà Kha xuất hiện, mặc dù tiếng tăm về môn phái này đã được truyền tụng.
Giữa lúc giới võ lâm đang truy tìm tông tích môn phái Trà Kha thì tại cuộc thi đấu võ đài lưu động của Tổng hội Võ thuật Sài Gòn tổ chức tại Quy Nhơn năm 1937, một võ sĩ trẻ tên là Vũ Ổn lần đầu tiên đăng ký thượng đài đã lần lượt hạ gục hết các võ sĩ giỏi. Đêm chung kết trao giải, trước khi nhận cúp vàng của ban tổ chức, Vũ Ổn lột áo cởi trần biểu diễn một số động tác khoe cơ bắp cuồn cuộn như lực sĩ cử tạ của mình.
Khán giả chưa kịp ngạc nhiên thì Vũ Ổn rút từ túi hành lý ra một cây đao bén ngót rồi tự chém phằm phặp vào người. Lưỡi đao bén ngót nhưng chạm vào da thịt anh ta như chạm vào trái bóng da, cứ bật ra. Cao hứng, anh ta còn nhờ khán giả lên cầm đao chém giúp.
Sau vài màn biểu diễn kinh hồn bạt vía, Vũ Ổn cho biết, anh ta là môn đệ võ phái Trà Kha mới xuất sơn từ Campuchia về nước.
Vài tháng sau, tạp chí Ngày Nay có bài viết của ký giả Vũ Văn Chung kể về võ sĩ Vũ Ổn. Bài viết kể mập mờ rằng, "Vũ Ổn đã sang Campuchia học được môn võ bí truyền Trà Kha. Môn võ đao chém không đứt, đạn bắn không thủng này chỉ cần học trong 3 ngày là thành công. Quý độc giả nào quan tâm hãy cố gắng đợi chờ".
Bắt đầu từ tháng 2/1938 cho đến cuối năm 1940, người ta liên tục thấy trong mục quảng cáo rao vặt của hàng loạt tờ báo chữ Việt đồng loạt đăng bài viết nội dung giới thiệu quyển "Bí kíp võ gồng Trà Kha của võ sĩ Vũ Ổn".
Điển hình là tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 273, phát hành ngày 26/8/1939 có bài quảng cáo mang tiêu đề: "Muốn bảo hiểm tính mạng nên học gồng Trà Kha do võ sĩ Vũ Ổn ở Hà Nội, vô địch Quy Nhơn 1937 truyền dạy".
Nội dung bài viết: "Một bí thuật của Phật giáo gốc tự Cao Miên, chỉ học trong 3 tối là thành tài. Dao chém, búa bổ, đòn đánh không đau. Khỏe mạnh suốt đời không bao giờ đau ốm vặt. Không kiêng cữ nhiều chỉ kiêng ăn thịt chó, khế, lươn và rắn. Trừ được tà ma. Ở gần xin tới tận nhà. Ở xa xin gởi mandat 3 đồng tiền học phí. 
Các nhà buôn muốn buôn bán phát tài, cửa hàng vắng khách trở nên đông nên lấy bùa chiêu tài. Muốn được bạc, được cá ngựa, đi làm chủ yêu nên lấy bùa thương. Chồng hay chơi bời cờ bạc, hút nghiền nên lấy bùa yêu nhân đạo. Các thứ bùa đều luyện sẵn cả, không mất thì giờ phiền phức. võ sĩ Vũ Ổn đã xuất bản cuốn sách dạy gồng Trà Kha có đủ cách luyện và thuốc, thế võ Nhựt…".
Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam
Bài quảng cáo về võ sĩ Vũ Ổn trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 273, phát hành ngày 26/8/1939.
Kèm theo bài viết là tấm ảnh chân dung của một võ sĩ trẻ, trạc 18-20 tuổi đang đứng trong tư thể biểu diễn cơ bắp cuồn cuộn.
Đang lúc làn sóng tò mò về võ phái lạ, các võ sư phía Nam đặt mua quyển bí kíp "võ gồng Trà Kha" của võ sĩ Vũ Ổn tới tấp. Khi nhận được quyển sách, các võ sư phía Nam đều nhận được thư khuyến cáo đi kèm: "Muốn luyện thành công võ gồng Trà Kha cần phải có sư phụ truyền dạy. Nếu tự luyện sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, nhẹ thì bán thân bất toại, nặng thì trở nên điên khùng".
Các võ sư phía Nam càng thất vọng hơn, khi nội dung quyển sách chỉ toàn bùa chú, không có chút hơi hướm quyền cước. Nói chung, đó chỉ là một quyển bí kíp luyện bùa.
Một số người tìm cách liên lạc với tác giả thì nghe tin chính quyền Pháp đã bắt giam Vũ Ổn vì "truyền bá mê tín". Không ai biết tin tức về võ sĩ Vũ Ổn nữa.
Bí mật võ phái Trà Kha
Bất ngờ, năm 1950, ban tổ chức võ đài Tinh Võ Học Hiệu tại Sài Gòn tiếp nhận một võ sĩ "độc chiếc" (đăng ký một mình, không đăng ký theo đoàn) lạ mặt, khoảng  40 tuổi đến đăng ký thi đấu. Về nguyên tắc, võ sĩ thi đấu phải đăng ký theo võ đường của mình. Tuy không quy định tuổi tác nhưng hầu như những người từ 40 tuổi trở lên đều trở thành sư phụ, hiếm khi thi đấu. Trong hồ sơ đăng ký, võ sĩ này ghi mình tên là Huỳnh Kim Hên, quê quán Bạc Liêu, môn phái Thiếu lâm Thủy phong thuộc Bắc Phái. Không ai biết Thiếu lâm Thủy phong xuất xứ từ đâu.
Ban tổ chức nghĩ anh ta thuộc dạng "chịu đấm ăn xôi", lên võ đài kiếm tiền cơm gạo tạm nên xếp anh ta thi đấu với một võ sĩ trẻ, không tên tuổi.
Thế nhưng, đêm giao đấu, võ sĩ "độc chiếc" đã làm khán giả cùng các võ sư sửng sốt vì chỉ mới vào hiệp chưa đầy 1 phút, võ sĩ Huỳnh Kim Hên đã hạ knock out đối thủ.
Trận sau, ban tổ chức xếp anh ta thi đấu với một võ sĩ đã thành danh. Ai cũng tưởng, trận này Huỳnh Kim Hên không qua nổi hiệp thứ 2. Tuy nhiên, Huỳnh Kim Hên lại làm những người chứng kiến sửng sốt trước khả năng chịu đòn kinh khủng. Mặc dù bị đối phương đánh bầm dập nhưng cứ sau mỗi lần ngã xuống sàn đài, Huỳnh Kim Hên đều bật dậy được. Cách đánh của Huỳnh Kim Hên mang vẻ quái dị. Anh ta cứ lầm lì lao vào đánh đấm kiểu như xả thân khiến đối phương phải vận hết sức chống đỡ. Gần kết thúc hiệp cuối, võ sĩ thành danh đuối sức, đành giơ tay đầu hàng.
Kể từ đó, một số người tò mò cho người tiếp cận, tìm hiểu. Sau hàng tháng trờilân la làm quen, Huỳnh Kim Hên mới tiết lộ mình thuộc trường phái Trà Kha.
Sau 1 thời gian khuấy động võ đài bằng những trận đánh vô tiền khoáng hậu, bất khả chiến bại, bỗng dưng Huỳnh Kim Hên mất tăm. Ông không đăng ký thi đấu nữa.

Theo Nông Huyền Sơn/An ninh thế giới 

LỄ HẰNG THUẬN: Nghi thức cưới trong chùa

LỄ HẰNG THUẬN: Nghi thức cưới trong chùa

Một vài năm trở lại đây , nhiều đôi ban trẻ làm lễ hằng thuận trong chùa.Đây là một nghi thức cưới đặc biệt được tổ chức trong không gian tâm linh tín ngưỡng của phật pháp, dưới ban tam bảo và sự chứng kiến của các sư tăng , sư ni và quan khách .Hình thức và nghi lễ trong bầu không khí linh thiêng này đã mở rộng ra không gian văn hóa đậm bản sắc của người Việt và ngày càng được đông đảo lứa đôi hưởng ứng .Lí do gì để bước ngoặt quan trọng nhất của đời người , nhiều người đã chọn lễ Hằng thuận?


 * GS - KTS Hoàng Đạo Kính - Thành viên hội đồng di sản văn hóa quốc gia , phó chủ tịch hội KTS Việt Nam :

  Xã hội tự nó quyết định còn do nhận thức và điều kiện hoàn cảnh của mỗi người.Khi con người ta có điều kiện kinh tế , sẽ quý sinh lễ nghĩa , còn nhiều người thì đám cưới chỉ đơn giản với những thủ tục gọn nhẹ sơ đẳng thôi, thậm chí trong mấy năm trở lại đây nhiều nơi ở nước ta người ta làm đám cưới tập thể .Vài chục đến cả trăm đôi vợ chồng cùng tổ chức hôn lễ .Nhưng cũng có những đám cưới nghĩ lễ rất cầu kì và rất kỹ lưỡng.Xã hội hiện này đang gian tâng hóa , một xã hội giai tầng hóa là biểu hiện của một xã hội  sung túc , một xã hội khá giả.Điều đấy cũng nên khuyến khích bởi vì một xã hội tất cả mọi người đều như nhau thì chả bao giờ xã hội ấy phát triển được.Ở đó sẽ không có sự ganh đua , sẽ không có sự giai tầng hóa , không có sự tinh lọc văn hóa.Chúng ta thấy độ chênh về văn hóa của những người hàn lâm thì cao còn văn hóa của mọi người khác thì phải phân tầng.Phân  tầng phụ thuộc ở vị trí xã hội,vốn liếngm tài sản,tri thức, hoàn cảnh xuất thân...Trở lại với lễ Hằng Thuận được tổ chức ở trong chùa là một nghi thức khởi đầu cho hạnh phúc hôn nhân của một người dưới sự chứng giám của Phật pháp và các chư tăng , chư ni.

  Lễ Hằng Thuận đòi hỏi công phu , vốn hiểu biết về văn hóa sâu và để trang trọng thì chi phí cũng không phải là nhỏ, có những người có điều kiện kinh tế mới có thể làm lễ Hằng Thuận quy mô , hoành tráng.
 
   Khi con người ta có nghi thức thì cũng biết tôn ti trật tự và ít nhất trong hôn nhân , sự tham gia của tín ngưỡng góp vai trò lớn trong sự củng cố niềm tin , khát vọng .

    Sự tuân thủ khuân phép giúp cho xã hội cân bằng ít nhất với cá xã hội nói chung và với từng nhóm cộng đồng cũng cần niềm tin , niềm tin sẽ dẫn con người không lầm đường , lạc lối , sống có ý nghĩa và mục đích. Nếu một xã hội không có khuân phép, tôn ti trật tự thì làm sao một xã hội tự điều tiết được và họ cứ bản năng , thả phanh , tùy tiện.
 
   Nghi thức lễ Hằng Thuận này không phải dành cho tất cả mọi người nhưng dành cho một nhóm người có khả năng , có điều kiện và có nhu cầu thì chính sự đa dạng hóa đáp ứng nhu cầu mà nhu cầu không chỉ thuần túy văn học nghệ thuật mà nhu cầu về  chỗ dựa về tinh thần. Và hiểu theo góc độ văn hóa thì đây là văn hóa tâm linh tín ngưỡng .Lễ  Hằng Thuận được tổ chức trong chùa trước ban Tam Bảo , vừa như suối nguồn trong trẻo gội rửa những bụi bặm trần tục để hướng đến sự thanh tịnh, an lành.

* Nhà văn - Sử  gia Hoàng Quốc Hải :
 
     Hôn lễ không chỉ là phong tục mà còn thể hiện nét đặc trưng văn hóa mỗi dân tộc ,mỗi thời đại.Nhưng phong tục và văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa .Đôi bạn trẻ , cô dâu và chú rể làm ngi thức lẽ Hằng Thuận trong chùa thấm nhuần đạo đức Phật giáo.Trong lễ Hằng Thuận đưa con người về với văn hóa lịch sử của cha ông như những họa tiết trang trí cúc , hoa sen,lá đề,rồng, nghê, hạc,phượng được sử dụng trong kiến trúc đình chùa,mỹ thuật của một thời đại lịch sử huy hoàng của dân tộc .Những đồ gốm men nâu, men ngà,men rạn với các lực sĩ ném lao , múa khiên... Ngay cả những hoa văn  mềm mại như hoa cúc, hoa sen... nét văn hóa đặc trưng cho dân tộc qua từng thời đại trong lịch sử đều được tinh tế tái hiện và truyền tải qua cánh thiệp mời, thiệp chúc , các nghi thức truyền thống , từng đường nét, màu sắc , trang trí khánh tiết tới y phục của cô dâu chú rể trong lễ  Hằng Thuận.Từ trang phục , diện mạo cho đến tinh thần lễ Hằng Thuận đấy là thế hệ trẻ hôm nay yêu quê hương đất nước , trân trọng giữ gìn truyền thống lịch sử, tôn vinh nét đẹp văn hóa và niềm tin tự hào của họ tộc và đạo lý ngàn đời : “ Uống nước nhớ nguồn” .

* Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm - phó chủ tịch hội đồng trị sự trưởng ban hoàng pháp TW giáo hội Phật giáo Việt Nam :


    Hôn nhân là một sự kiện cực kỳ quan trọng trong đời sống lứa đôi , là bước ngoặt của sự trưởng thành.Phật tự thuần thành thấm nhuần đạo đức lễ nghi Phật giáo tìm đến niềm an vui trong chánh pháp , xây dựng gia đình hạnh phúc trong chánh pháp .Ngoài những nghi lễ theo truyền thống dân tộc , là phật tử chúng ta nên tổ chức thêm lễ Hằng Thuận ở chùa để kiến tạo cho mình một đời sống an lạc trong hiện tại và một số vốn tối thiểu trong kiếp lai sinh.Quý phật tử tự nguyện giữ gìn ngũ giới , tiến đến tu hành thập thiện,đồng thời trao dồi bốn đức hạnh từ - bi - hỷ - xả , sống một đời sống thiện lành , đạo đức vị tha, nghiêm khắc với mình , khoan dung độ lượng với người,sũy nghĩ điều chánh đáng ,nói lời chánh ngữ,hành nghiệp chánh nghiệp.

   Lễ  Hằng Thuận của Phật giáo là nét văn hóa mang bản sắc dân tộc và phát huy nền tảng trí tuệ , đạo đức tâm linh,định hướng con người sống hữu ích trong đời sống gia đình , xã hội.Lễ  Hằng Thuận là cây cầu nối giữa đạo và đời , là sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa văn hóa truyền thống , đạo đức dân tộc và văn hóa tâm linh của Phật giáo,là nét đẹp văn hóa đặc thù của Phật giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình đối với phật tử.

  Khởi đầu cho một bước ngoặt lớn trong đời mà được tổ chức tại chốn thiền môn nghiêm tịnh thì quả là phước duyên lớn lao cho đôi vợ chồng , sẽ không có một đại tiệc nào có thể sánh bằng Lễ  Hằng Thuận trang nghiêm thanh tịnh như ở chùa .

Từ sự khởi đầu tốt đẹp này ,quý phật tử lại được nghe những lời giáo huấn quý báu do thầy chủ lễ giảng giải về nền tảng quan trong để bảo đảm xây dựng nên một cuộc sống hạnh phúc lâu dài bên vững cho gia đình và cho cả con cháu sau này.Cùng những lời chúc phúc của chư tăng , chư ni trong ngày trọng đại ấy , lương duyên của lứa đôi được mỹ mãn , hạnh phúc được miên trường.
 
  Lễ Hằng Thuận do vậy được xem là dấu ấn sinh động , một kỉ niệm tâm linh vô cùng ý nghĩa trong ngày cưới. Điều này không chỉ không chỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của đôi lứa trong những ngày chung sống bên nhau , mà còn ảnh hưởng tích cực đến những người thân.Nó mang lại nguồn cảm hứng “sống đạo ” rất sâu lắng giữa đời thường mà đôi vợ chồng dễ dàng cảm nhận được và cho tất cả những ai tham dự lễ Hằng Thuận một luồng sinh khí tươi sáng lành mạnh và thánh thiện. Lễ Hằng Thuận có ý nghĩa tiêu biểu bao hàm trong ý thơ :” Bạch niên giai lão /Sắt cầm hòa hợp/Loan phượng trình tường/Công danh thành đạt/ Cát tường như ý”.

 * Thượng Tọa Thích Huệ Thông - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương :

  Có tình trạng phổ biến đang diễn ra trong đời sống hôn nhân gia đình của xã hội ta hiện nay là do yêu thương mà không có chuẩn bị cho nền tảng hạnh phúc gia đình lâu dài nên dẫn đến xung khắc, đổ vỡ sau khi lập gia đình. Trong đời sống thế gian ,sở dĩ gia đình không hạnh phúc , cuộc sống không hòa hợp là do sự bộc phát của lòng ham muốn nhất thời , có thể gọi đó là sự luyến ái nhau và cùng có thể gọi là tình yêu thương nhất thời giữa nam và nữ.Đứng trước nguy cơ và đổ vỡ như vậy,Phật giáo có vai trò trợ duyên cho các gia đình phật tử.

 Lễ Hằng Thuận là nghi thức tương đối đặc biệt danh riêng cho lễ cưới được tổ chức trang nghiêm trọng thể trong chùa.Nghi thức Hằng Thuận trong ngày cưới mang đậm dấu ấn đạo đức tâm linh và trí tuệ của đạo Phật , cùng với những định hướng rất cụ thể giúp cho đôi vợ chồng có được một tương lai lạc quan tươi sáng trên tinh thần giác ngộ giải thoát.

  Mục đích chính của lễ Hằng Thuận là làm thế nào để cho đôi vợ chồng ý thức được tầm quan trọng của nền tảng đạo đức tâm linh trong đời sống gia đình , để từ đó hướng đến đời sống hôn nhân thật sự an lạc hạnh phúc. Để thực hiện được điều này , trước hết đôi vợ chồng phải hết lòng yêu thương nhau , chung thủy,tôn trọng, quý kính lẫn nhau và luôn luôn hòa thuận với nhau và cùng nhau hướng đến những điều thánh thiện và cao thượng trong cuộc sống như hàm nghĩa của hau từ Hằng Thuận toát lên.

  Lễ Hằng Thuận đã tạo điều kiện cho các cô dâu chú rể được đảnh lễ chư Phật , được quy y Tam Bảo, được chư tăng đứng ra chứng minh hôn sự trong bầu không khí linh thiêng nơi chán điện,được quý thần tận tình hướng dẫn đạo lý vợ chồng trong đời sống hôn nhân như lờiđức Phật đã dạy trong kinh Thiện Sanh hay kinh Ca Thi La Việt ... chủ yếu xoay quanh đạo nghĩa vợ chồng.


 Nếu quý phật tử triển khai thực hành những lời dạy của đức Phật xây dựng một đời sống bình đẳng,tôn trọng, thủy chung,cảm thông, chia sẻ yêu thương gắn bó cùng hướng đến một chân trời thánh thiện thì chắc chắn hạnh phúc sẽ ở trong tầm tay của mỗi gia đình , khi đó đời sống gia đình sẽ không có sự xung khắc , không còn đau thươngvà sẽ không còn cảnh tan đàn sẻ nghé, cha mẹ xa lìa con cái,quý phật tử sẽ đạt được một đời sống an lạc hạnh phúc, đây chính là lợi ích lớn lao từ lễ Hằng Thuận mang lại.
  



                                                        
Mỹ Trân - An ninh thế giới
( mytrantcsk@yahoo.com)



 



50 năm ngày hy sinh của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi

50 năm ngày hy sinh của Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi (15/10/1964 - 15/10/2014): “ CÓ CÁI CHẾT HÓA THÀNH BẤT TỬ  “

Ngày 15 - 10 - 1964 , cách đây 50 năm , phản bội lại những lời đã hứa với quân du kích Venezuela,chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã ra lệnh thi hành án tử hình người công nhân yêu nước Nguyễn Văn Trỗi .Tấm gương hy sinh dũng cảm của anh Trỗi lúc bấy giờ đã gây xúc động mạnh tới hàng triệu , hàng triệu đồng bào cả nước và trên toàn thế giới .Phim tài liệu  “ Anh Nguyễn Văn Trỗi sống mãi “ được bấm máy trong tâm thế, hoàn cảnh như vậy.Lúc này đất nước Việt Nam vẫn đang còn chiến tranh .Giặc Mỹ đang chiếm đóng miền Nam.Chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đang lan ra miền Bắc. Hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, vô cùng gian khổ. Tư liệu trong phim thì rất ít ỏi.

poster bìa phim "Nguyễn Văn Trỗi"
Tấm gương hy sinh dũng cảm của anh Trỗi lúc bấy giờ gây xúc động mạnh như vậy, nhưng thông tin thì quá mỏng .Tài liệu về anh Trỗi đưa ra miền Bắc quá ít .Chỉ có mấy ảnh đám cưới anh Trỗi với với chị Quyên.Đoàn làm phim đã tập chung và mất rất nhiều thời gian để tìm cho được cảnh phim  anh Trỗi ở pháp trường .Đích thân đạo diễn Bùi Đình Hạc đã gửi thư đi các nước để xin mua lại đoạn phim đó bởi xác định đây là đoạn phim cần thiết nhất .Thư được gửi đi nhiều nước , và có nơi  họ gửi thư trả lời rằng có,nhưng không được toàn quyền sử dụng.Về sau ,rất may mắn , có một nhà quay phim nước ngoài đem đến tặng .Với những thước phim ít ỏi và vô cùng quý giá đó , về những giây phút cuối cùng của anh Trỗi ở pháp trường , kết hợp với những cảnh quay ở miền Bắc và của điện ảnh Quân Giải Phóng để tạo nên một chân dung người thợ điện Nguyễn Văn Trỗi gần gũi thân thiết và tầm vóc của anh càng trở nên lớn lao trong tư thế ung dung ,lẫm liệt trước pháp trường , với khi phách hiên ngang trước quân thù.Tiếng hô đanh thép của người hùng : “ Việt Nam muôn năm . Hồ Chí Minh muôn năm . dõng dạc vang lên đã tạo nên sự cộng hưởng lớn của toàn thể nhân dân trong  cả nước.Đáp lại lời anh là những tiếng nổ long trời giải phóng miền Nam , thông nhất đất nước.

Đạo diễn Bùi Đình Hạc nhớ lại ,phim không chỉ ca ngợi tấm gương cao cả và khí phách hiên ngang của của người chiến sĩ biệt động Sài Gòn mà còn muốn mang đến cho người xem thấy được không khí sôi nổi , hừng hực của đồng bào cả nước , biến đau thương thành sức mạnh , quyết trả thù cho anh Trỗi , đánh thắng quân Mỹ xâm lược.Cuối phim , đạo diễn đã mời chính nhà thơ Tố Hữu đọc bài thơ của ông trên nền hình ảnh biển cả mênh mông , sóng dâng cuồn cuộn dưới trời cao xanh lồng lộng tạo nên một hiệu quả mạnh mẽ .” Có những phút làm nên lịch sử .Có cái chết hóa thành bất tử.Có những lời hơn mọi bài ca .Có con người như chân lí sinh ra.”Bộ phim đã giành Giải Bạc Liên Hoan Phim Quốc Tế  Moskva 1965 .Giải Bông sen Vàng liên hoan Phim Việt Nam lần thứ nhất năm 1970.

       Cảnh trong phim "Nguyễn Văn Trỗi"                                      Nghệ sĩ nhân dân, đạo diễn Bùi Đình Hạc
Tuy nhiên , sau khi làm phim tài liệu xong,đạo diễn Bùi Đình Hạc nhận thấy chưa đủ .Bởi khi làm phim tài liệu bao giờ cũng bị khống chế thời gian ngắn, Và thứ hai là đặc trưng của thể loại phim tài liệu là những cảnh quay thực , việc thật , rất khó đi vào miêu tả tâm lí , tính cách của người anh hùng như một hình tưởng điển hình nghệ thuật.Có những cảm xúc , có nhiều suy nghĩ về anh Trỗi chưa thể hiện được trong phim tài liệu.Cho nên đạo diễn Bùi Đình Hạc đã mong muốn làm một bộ phim truyện sâu sắc hơn về người anh hùng huyền thoại này.Ngay lập tức ,cùng một số nhà văn , nhà biên kịch , đạo diễn Bùi Đình Hạc đã bắt tay ngay vào việc xây dựng kịch bản phim đang được thực hiện thì bất ngờ nhận được tác phẩm “ Sống như anh ‘ do chính chị Phan Thị Quyên , vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi kể lại,và Trần Đình Vân ghi . Mừng quá. Đoàn làm phim tiếp tục bắt tay ngay vào hoàn thiện kịch bản phim dựa trên tác phẩm quý giá này.Dựa trên những nét độc đáo và tiêu biểu của tác phẩm và sáng tác thêm và cấu trúc và sử dụng ngôn ngữ cô đọng của điện ảnh.

    Đạo diễn Bùi Đình Hạc cùng các cộng sự đã rất tinh tế khi tìm ra sợi chỉ dẫn dắt câu chuyện từ đầu đến cuối, đó là mối tình đằm thắm yêu thương của đôi vợ chồng người công nhân yêu nước trong mối quan hệ đồng chí, đồng bào.Vừa mang chất anh hùng ca,vừa mang tính chữ tình.So với tác phẩm văn học gốc . bộ phim Nguyễn Văn Trỗi đã có những thay đổi đáng kể .Phim chỉ tập trung vào quãng đời tiêu biểu nhất của người anh hung kể từ khi anh nhận nhiệm vụ đi gài mìn trên cầu Công Lý để ám sát Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ McNamara đến khi anh hy sinh anh dũng cảm trước họng súng quân thù.Tất cả những gì không cần thiết về dung lượng của một bộ phim một tập thời gian 1 tiếng 40 phút đều được lược bỏ. Chính vì thế , bộ phim trở nên cô đọng , súc tích tạo được ấn tượng mạnh cho người xem .

Diễn viên Thu Hiền trong vai chị Quyên trên tạp chí Liên Xô (cũ)
 Hình tượng hai nhân vật chính là anh Trỗi và chị Quyên được xây dựng thành công , gây ấn tượng mạnh.Tính cách của anh Trỗi là tính cách đã được xác định từ đầu.Hình ảnh về anh được ngôn ngữ điện ảnh miêu tả chân thực và sinh động.Vừa mang tính chất anh hùng ca,vừa mang tính chất tình ca.Tính cách của chị Quyên là tính cách phát triển .Quyên trải qua quá trình từ người vợ yêu thương sau đó hiểu hoạt động của chồng rồi tham gia cách mạng.Trong phim còn chú ý xây dựng tính cách nhân vật phụ, một mặt tạo ra nền anh hùng của hình tượng Nguyễn Văn Trỗi , mặt khác xét về kết cấu nó có tác dụng làm động cơ,thúc đẩy quá trình chuyển biến của nhân vật Quyên.Việc xây dựng các nhân vật phụ như chị Y, chị Châu ,Má Em Nam Bộ,bà Má Huế ,bé Dân 4 tuổi tạo nền cho hình tượng anh hùng Nguyễn Văn Trỗi .
   Quá trình làm phim truyện về người công nhân anh hùng Nguyễn Văn Trỗi , đạo diễn Bùi Đình Hạc đã trải qua nhiều kỉ niệm không thể nào quên.

    Đầu tiên là tìm nhân vật đóng anh Trỗi và chị Quyên.Bởi vì anh Trỗi là người anh hùng, và có thể nói rằng ,lúc bấy giờ cả đất nước , dân tộc đều biết rất rõ khuân mặt của anh.Cho nên nhân vật đóng vai này phải thật giống anh Trỗi.Đoàn đã phải đi tìm rất nhiều nơi , cả chuyên và không chuyên.Có những buổi đạo diễn Bùi Đình Hạc cùng các cộng sự đã phải đến trước cửa nhà máy, chờ đến giờ tan ca, tan tầm để ngắm xem có ai có khuân mặt giống anh Trỗi không ... Chị Quyên thì không giống cũng được .Đó có thể chọn hình ảnh người phụ nữ Việt Nam , phúc hậu yêu chồng là được.Nhưng anh Trỗi thì phải giống , vì mọi người đều xem qua báo chí , phim tài liệu cả rồi.Là nhân vật đã ăn sâu vào tiềm thức , vào cuộc sống thì không làm khách được.Làm phim chuyên nghiệp là phải như vậy.Và cuối cùng .Và cuối cùng,đoàn đã chọn được người vào vai đều là diễn viên múa là Quang Tùng và Thu Hiền.Chính vì không phải là diễn viên điện ảnh , đoàn lại mất thêm khoảng một tháng bồi dưỡng cấp tốc về nghiệp vụ diễn xuất cho hai nhân vật chính này .Về sau cả hai đều bén duyên với điện ảnh .

    Trong phim còn có một đoạn mà đoàn làm phim hết sức xây dựng .Đó là khi nghe tin du kích Venezuela bắt Trung tá không quân Mỹ Michael Smolen để đổi lấy anh Trỗi . Phải thể hiện được cảnh chị Quyên , khi nghe tin ấy thì hy vọng , vui sướng tưởng sẽ cứu được anh Trỗi .Nhưng cuối cùng địch lẩn lọng , và vẫn xử bắn anh Trỗi .Đây là đoạn phim quan trọng , nói lên tình cảm quốc tế , nhân dân quốc tế đối với cuộc cách mạng Việt Nam , với nhân dân Việt Nam ta trong cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước.Nó là điều kiện để từ tình yêu đôi lứa , vợ chồng phát triển lớn lên thành tình yêu dân tộc đất nước .Đặc biệt với anh Trỗi là phải miêu tả rất tế nhị nhưng mà chân thực , cái chất tình ca của anh Trỗi với chị Quyên , kết hợp với anh hùng ca của anh Trỗi với đất nước.Hai cái này quyện vào nhau , nên mới đi vào lòng người .Bối cảnh nhà anh Trỗi lấy từ ảnh Miền Nam gửi ra, do hai họa sĩ tài danh Lê Thanh Đức và Trần Kiềm vẽ,dựng lên.Nhiều cảnh khác phải làm lấy trong trường quay .Còn cảnh chị Quyên đi thăm anh Trỗi ở nhà thương chợ Quán là quay ở Nhà hát Nhân dân - bây giờ là Cung Văn Hóa Hữu nghị.Nói chung là cung phu lắm , và làm rất cẩn thận.

    Trong tư liệu về anh Trỗi , có 2 phần ,phần tình cảm đối với vợ ,với gia đình rất là chu đáo.Có những cảnh anh Trỗi xách nước cho vợ tắm .Yêu vợ với một mối tình sâu lắng , rất tình cảm.Đây là mặt tình ca cần phải biểu hiện lên được.Nhưng mặt khác ,khi mà đi chiến đấu thì rất rứt khoát .Khi ra pháp trường rất bình tĩnh ,mặc áo trắng bước ra bước ra đàng hoàng , không khuất phục trước kẻ thù.Tính chất anh hùng ca gắn với tính chất tình ca trong nhân vật này .Rất xúc động.Rất thật.Trong phim Nguyễn Văn Trỗi không có gì lên gân.Tất cả đều tự nhiên như cuộc đời.

  Còn một chi tiết nữa.Tức bộ phim làm khi còn đang chiến tranh , đất nước bị chia cắt , nhưng là câu chuyện việc thật, người thật.Khi mô tả , đoàn làm phim không hề có sự cường điệu.Và điều xúc động là những nhân vật ở ngoài cuộc đời với trong phim nó gắn với nhau .Đạo diễn Bùi Đình Hạc nhớ lại , khi làm nhiệm vụ quay phim bộ đội trong chiến dịch Hồ Chí Minh , vào đến Sài Gòn , ông cùng một số người nữa thắp hương cho anh Trỗi .Xúc động lắm .Và lúc bấy giờ mới gặp chị Y trong phim, sau này là nguyên Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa .Gặp nhau thân tình như đã quen từ lâu lắm.Chị X, tức là chị Châu , lúc bấy giờ là Chủ tịch UBND , quận 10.Gặp cả bé Dân,bé Dân thật đấy ,nhưng đã lớn khác nhiều rồi .Vui lắm.Thế nên nói cuộc đời và nghệ thuật nó gắn với nhau. Nó gắn với nhau một cách kì lạ.Tất cả các nhân vật ấy,khi gặp nhau đều xem phim cả rồi.

  Lão đạo diễn , NSND Bùi Đình Hạc bảo,ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, là nguyên Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa trao.Sau khi đi xuống , nguyên Phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa nói với lão đạo diễn : “ Tôi vẫn còn nhớ kỉ niệm về anh,khi anh vào giải phóng Sài Gòn, tôi là nhân vật Y ở trong phim của anh.” Cuộc đời làm nghệ thuật có những giây phút thật như thế, tình cảm với nhau như thế mà có lẽ, không bao giờ trở lại được nữa.
                                                                                   



VIỆT BA - báo An ninh thế giới                                       
(vietanhp@gmail.com)





Top