ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Style5

Style5

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Bí ẩn về số phận của các thái giám chốn cung đình Việt Nam

Cũng bởi môi trường sống và tâm lý phức tạp nên không ít nghiên cứu về các thái giám còn được sử dụng trong nghiên cứu về đồng tính luyến ái ngày nay.
Thái giám, hay hoạn quan là một chức quan tuy địa vị thấp nhưng chiếm vị trí quan trọng trong hậu cung xưa. Cuộc đời của họ ngoài những thăng trầm biến cố theo thời cuộc, còn phải chịu thêm đủ nỗi nặng nề, thương tâm. Một trong số đó là cảm giác đơn độc, cô quạnh cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay.

Chấp nhận "tịnh thân" đổi lấy vinh dự cho dòng tộc

Vốn từ tiếng Việt nhắc tới những vị thái giám với vô số danh từ điển hình như quan hoạn, quan thị, quan giám. Trong những từ đó đã bao hàm cả những khiếm khuyết về thể năng không thể bù đắp của những thái giám. Không hiếm người làm thái giám bởi khi sinh ra họ đã phi nam phi nữ, không có bộ phận sinh dục của đàn ông hoặc đàn bà.


Nhưng phần đông là những người tự nguyện “tịnh thân” đặng thiến bộ phận sinh dục để được vào hầu hạ trong cung. Bởi thân làm thái giám, họ đã có thể giúp cả họ, cả tổng được nhờ. Cái nhờ ấy lớn lao tới mức nhiều gia đình sẵn sàng hi sinh dòng giống nối dõi của gia tộc cho sự "cả làng còn nhờ", để đổi lấy vinh quang và sự tôn trọng của mọi người. Nhiệm vụ chính của các thái giám thường là tổ chức và quản lý chốn hậu cung, cùng một số chuyện tế nhị khác.
Thái giám trong lịch sử Việt Nam tồn tại dưới các đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Do không có bộ phận sinh dục nên con người của thái giám tiếng nói cũng như tính cách rụt rè thiên về nữ nhiều hơn nam. Suốt đời họ phụng sự trong cung và lớn lên họ kết nghĩa với nhau, có thể cùng giới hoặc khác giới.
Họ dùng sức đàn ông để phục vụ những việc nặng nề, sai bảo ở trong cung, nhưng trong cung toàn phụ nữ không chồng hoặc chỉ một ông chồng…Cũng bởi môi trường sống và tâm lý phức tạp nên không ít nghiên cứu về các thái giám còn được sử dụng trong nghiên cứu về đồng tính luyến ái ngày nay.
Song hành cùng lịch sử dẫu bị chối bỏ công lao
Cũng do có thuận lợi được sống gần “thiên tử”, được nhiều ân sủng và nắm được những “thâm cung bí sử” trong triều nên thường họ cùng liên kết với nhau để thực hiện âm mưu nào đó. Không ít triều đình rối ren, thậm chí bị đảo chính cũng là có phần góp sức không nhỏ của thái giám.
Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, thời vua Minh Mạng (1820 – 1841) đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức.
Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”.
Sống quạnh hiu, chết nương nhờ cửa Phật
Tại Huế, bên cạnh những lăng tẩm lộng lẫy, không mấy người không biết tới chùa Từ Hiếu, nơi nương mình lặng lẽ của những người hầu cận vốn chiếm vai trò khá quan trọng trong cung đình xưa, nhưng tên tuổi cũng như vị trí của họ chưa bao giờ được đề cao. Họ là những thái giám chốn hậu cung.
Ngôi chùa là nơi “cưu mang” các quan thái giám trong triều Nguyễn,  vốn không có con nối dõi, họ bày tỏ nguyện vọng với nhà vua, sau khi nhắm mắt xuôi tay, họ được chôn trong ngôi chùa này đặng có người lo hương khói.
Cảm thông với ước nguyện chính đáng này, vua Tự Đức đã xuống chỉ dụ chấp thuận. Họ đã đóng góp công đức vào ngôi chùa, để sau khi chết họ được mai táng, phục tự và cúng giỗ nơi này.
Khuôn viên chùa Từ Hiếu, nơi có nghĩa trang thái giám với 25 ngôi mộ.

Vì thế, ngoài tên Từ Hiếu, chùa còn được nhiều người quen gọi là chùa Thái giám. Hiện nay, trong vườn chùa Từ Hiếu có đến 25 ngôi mộ của Thái giám triều Nguyễn. Trước mỗi ngôi mộ đều có tấm bia ghi rõ tên họ và chức vụ của từng người. 
Nhiều mảnh đời chung tâm nguyện nhỏ nhoi
Về cuối đời, các thái giám triều Nguyễn lúc bấy giờ phải cư trú ở một ngôi nhà phía Bắc hoàng thành gọi là Cung giám viện. Khi chết, số phận họ vô cùng bi thảm, không được chôn gần lăng tẩm hoặc những chốn linh thiêng và cũng chẳng được ai thờ cúng vì không có con cháu. Để tránh bát hương trở nên lạnh lẽo khi “về trời”, nhiều người đã chọn con nuôi để dạy dỗ và lo hậu sự về sau.
Theo tục lệ, cứ đến rằm tháng 11 hàng năm, chùa Từ Hiếu lại tổ chức ngày giỗ chung để tưởng nhớ những người đã mất, trong đó có thái giám triều Nguyễn. Có lẽ, một phần nhờ sự lãng quên của người đời, mà mặc dù trải qua các giai đoạn chiến tranh ác liệt nhưng phần lớn những ngôi mộ này vẫn nguyên vẹn và đa phần đều đọc được rõ chữ.
Nghĩa trang thái giám hiu quạnh trong chùa Từ Hiếu
Theo lời dịch lại của một sư cụ trong chùa, thì xúc động nhất là lời lẽ trên tấm bia trước cổng nghĩa trang khiến hậu thế không khỏi chạnh lòng: Bia đề: “Trong đời sống, chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên bình. Khi ốm đau, chúng tôi lui về đây và sau khi chết, chúng tôi sẽ được chôn chung ở đây. Dù sống hay chết, chúng tôi vẫn tìm thấy được ở đây sự yên bình”.
Phận đời đưa đẩy đã khiến nhiều thái giám có một nỗi sợ mãnh liệt lớn hơn cả cái chết, chết ở đâu, chết lúc nào… theo họ giờ không quan trọng mà quan trọng nhất là được chết toàn thây, được chết cạnh cái mà mình đã cắt bỏ đi để khi về thế giới bên kia mình được chứng nhận là đã trải qua một kiếp con người. Đó cũng là cái kết “đáng buồn thay” cho cuộc đời của những con người “sinh ra chẳng được mấy ai chấp nhận”.


Theo T.H/Đep plus, Màn ảnh sân khấu

Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam

Đặc điểm chung của các võ sĩ Trà Kha trước khi vào trận đều bái lạy 4 hướng bằng những động tác kỳ quái. Khi lâm trận họ lầm lì đánh, lầm lì chịu đòn và thân hình rắn chắc như sắt.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, phong trào võ thuật miền Nam bước vào giai đoạn sôi động, các võ sĩ Trà Kha đã để lại dấu ấn khá mạnh mẽ trong giới võ lâm.
Điều lạ là những võ sinh Trà Kha đều rất kín tiếng khi được hỏi về môn phái. Họ tự rút vào một thế giới riêng biệt. Vì vậy, người “ngoại đạo” hầu như không biết gì về họ.
Những trận thượng đài bạt vía khán giả
Chúng tôi có cơ duyên gặp gỡ và hầu chuyện cùng đại lão võ sư Ba Cao Lãnh (1902 - 2005) trước khi ông về cõi vĩnh hằng. Trong làng võ miền Tây Nam Bộ, rất nhiều người nghe tiếng tăm Ba Cao Lãnh nhưng ít ai có dịp gặp mặt vì ông bắt đầu mai danh ẩn tích từ năm 1969 tại Cao Lãnh (Đồng Tháp).
Võ sư Mã Thành Long (tức Huỳnh Kim Hên), người gốc Trà Kha.
Từ năm 15 tuổi ông đã được đại sư Bảy Hớn, một truyền nhân võ phái Thất Sơn Thần Quyền trên núi Cấm (An Giang) thu nhận làm đồ đệ. Sau khi sư phụ Bảy Hớn qua đời, ông Ba Cao Lãnh trở thành người giữ lá cờ truyền nhân bí pháp.
Theo lời kể của võ sư Ba Cao Lãnh thì vào năm 1917, sau khi nhập môn mấy ngày, ông đã có dịp chứng kiến một trận thư hùng kinh hãi giữa môn phái Thất Sơn Thần Quyền và một môn phái lạ do võ sư No Sa ở Bạc Liêu làm trưởng môn. Cuộc tỷ thí võ đài này là do chính No Sa khởi xướng, thách đấu.
Theo quy ước, "tỷ thí võ đài" khác với "thi đấu võ đài". Một trận đấu võ đài có phân hiệp để võ sĩ lấy sức. Thắng, thua được tính bằng điểm số do trọng tài chấm. Còn "tỷ thí" thì đánh đến khi đối phương xin thua hoặc ngất, chết. Bên cạnh dây đài, 2 phe để sẵn chiếc hòm. Bên nào có người bị thương, bị chết tự lo liệu thuốc men, chôn cất, không bên nào được thưa kiện ra chính quyền. Nếu bị pháp luật truy cứu, bên này phải làm tờ bãi nại cho bên kia.
Ông Ba Cao Lãnh là tân võ sinh nên được miễn đấu mà chỉ lo việc trà nước.
Bảy Hứa (năm 1966 là Ủy viên Tổng hội Võ thuật Thất Sơn An Giang) là huynh trưởng của môn phái được sư phụ Bảy Hớn phân nhiệm vụ giao đấu với huynh trưởng của phái No Sa là No Sa Dam. Vào cuộc đấu, Bảy Hứa chiếm thế thượng phong vì nhanh nhẹn hơn No Sa Dam. Chỉ sau vài chiêu, mặt No Sa Dam đã tóe máu bởi mấy cú đánh chỏ cật lực của Bảy Hứa. Với người thường, bị trúng đòn như vậy có thể đã mất mạng.
Thế nhưng, No Sa Dam vẫn cứ lầm lì nhào vô. Bảy Hứa dùng một thế võ cận chiến vật cổ No Sa Dam xuống đất rồi chắp 2 tay lại bổ vào be sườn đối phương liên tục. Những cú bổ như trời giáng chạm vào be sườn No Sa Dam ép vào lồng phổi thành tiếng "ình ình" như tiếng trống bể. Sau hàng chục cú "bổ củi", thấy No Sa Dam nằm im, Bảy Hứa tưởng đối phương đã chết nên đứng dậy.
Tuy nhiên, No Sa Dam vẫn lừng lững đứng lên, cắm đầu vào đánh tiếp. Thấy đối phương tóe máu, Bảy Hứa cảm thấy tội nghiệp nên không ra đòn hiểm nữa mà đánh cầm chừng. Tận dụng kẽ hở đó, No Sa Dam tung cú phản đòn khiến Bảy Hứa lăn quay ra đất bất tỉnh. Dù vậy, No Sa Dam vẫn hùng hục đánh vào thân hình mềm nhũn của Bảy Hứa. Sư phụ Bảy Hớn phải tung khăn vào võ đài cho đệ tử xin thua nhưng No Sa Dam vẫn tiếp tục hì hục bẻ tay, bẻ chân kẻ thua cuộc.
Bảy Hớn đành chắp hai tay trước ngực xin với No Sa. No Sa truyền lệnh cho đệ tử bằng một câu thần chú. Khi ấy, No Sa Dam như sực tỉnh, buông Bảy Hứa ra rồi… đổ xuống đất ngất xỉu.
Bảy Hứa bị bẻ gãy lòi cả hai tay, phải điều trị nửa năm trời mới hồi phục.
Sau cuộc đấu mấy ngày, sư phụ Bảy Hớn mới cho các đệ tử biết, No Sa là truyền nhân của môn phái Trà Kha. Còn Bảy Hứa, trong những ngày dưỡng thương kể lại rằng, lúc giao đấu, tay ông chạm vào người No Sa Dam giống như chạm vào gốc cây. Sau mỗi cú đánh trúng vào người No Sa Dam, tay ông tê dại.
Sau này, No Sa Dam sang Phnôm Pênh, Campuchia mở một võ đường Trà Kha rất lớn. Trước năm 1975, có dạo, ông No Sa Dam được giới võ thuật Campuchia bầu làm Chủ tịch Tổng hội Võ thuật Campuchia. No Sa Dam đào tạo được rất nhiều thế hệ võ sĩ giỏi như No Sa Long, No Sa Lieng….
Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam
Chùa Sala Pothy Chum nằm trong xóm Trà Kha.
Năm 1925, phong trào võ thuật tại Sài Gòn bỗng dưng phát triển mạnh mẽ. Hàng tuần, Tổng hội Võ thuật đều tổ chức võ đài quốc tế tại võ đường Việt Nam Tinh Võ Học Hiệu (Hiện nay ở số 756, Nguyễn Trãi, quận 5, TP HCM) cho các võ sinh khắp miền Nam giao lưu với các võ sĩ khắp khu vực châu Á. 
Các võ đường hiện diện tại miền Nam thi nhau tung đồ đệ thượng đài để quảng bá môn phái của mình. Hàng trăm môn phái Thiếu lâm Bắc phái, Thiếu Lâm Nam phái, Võ Cổ truyền Việt Nam liên tục đưa võ sĩ ra giao đấu với các võ sĩ từ các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Hồng Kông…
Thậm chí, thỉnh thoảng một số quốc gia phương Tây như Pháp, Mỹ cũng đưa võ sinh sang Việt Nam thi đấu. Nhiều môn phái đã tạo được danh tiếng cho mình ở các cuộc thi đấu này. 
Trong những cuộc thượng đài đó, thỉnh thoảng, người ta lại thấy một võ sĩ môn phái Trà Kha xuất hiện tạo một cơn sóng dư luận trong làng võ rồi biệt tăm. Trong đó có người xưng là học trò của Phan Phát Sanh (tức Phan Xích Long), có người giới thiệu là đệ tử một võ sư không ai biết tên tuổi. 
Đặc điểm chung của những võ sĩ Trà Kha trước khi vào trận đều bái lạy 4 hướng bằng những động tác kỳ quái. Khi lâm trận họ lầm lì đánh, lầm lì chịu đòn và thân hình rắn chắc như sắt.
Không ai biết, môn phái này xuất xứ từ đâu. Trước năm 1925, chưa ai từng thấy võ sinh môn phái Trà Kha xuất hiện, mặc dù tiếng tăm về môn phái này đã được truyền tụng.
Giữa lúc giới võ lâm đang truy tìm tông tích môn phái Trà Kha thì tại cuộc thi đấu võ đài lưu động của Tổng hội Võ thuật Sài Gòn tổ chức tại Quy Nhơn năm 1937, một võ sĩ trẻ tên là Vũ Ổn lần đầu tiên đăng ký thượng đài đã lần lượt hạ gục hết các võ sĩ giỏi. Đêm chung kết trao giải, trước khi nhận cúp vàng của ban tổ chức, Vũ Ổn lột áo cởi trần biểu diễn một số động tác khoe cơ bắp cuồn cuộn như lực sĩ cử tạ của mình.
Khán giả chưa kịp ngạc nhiên thì Vũ Ổn rút từ túi hành lý ra một cây đao bén ngót rồi tự chém phằm phặp vào người. Lưỡi đao bén ngót nhưng chạm vào da thịt anh ta như chạm vào trái bóng da, cứ bật ra. Cao hứng, anh ta còn nhờ khán giả lên cầm đao chém giúp.
Sau vài màn biểu diễn kinh hồn bạt vía, Vũ Ổn cho biết, anh ta là môn đệ võ phái Trà Kha mới xuất sơn từ Campuchia về nước.
Vài tháng sau, tạp chí Ngày Nay có bài viết của ký giả Vũ Văn Chung kể về võ sĩ Vũ Ổn. Bài viết kể mập mờ rằng, "Vũ Ổn đã sang Campuchia học được môn võ bí truyền Trà Kha. Môn võ đao chém không đứt, đạn bắn không thủng này chỉ cần học trong 3 ngày là thành công. Quý độc giả nào quan tâm hãy cố gắng đợi chờ".
Bắt đầu từ tháng 2/1938 cho đến cuối năm 1940, người ta liên tục thấy trong mục quảng cáo rao vặt của hàng loạt tờ báo chữ Việt đồng loạt đăng bài viết nội dung giới thiệu quyển "Bí kíp võ gồng Trà Kha của võ sĩ Vũ Ổn".
Điển hình là tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy, số 273, phát hành ngày 26/8/1939 có bài quảng cáo mang tiêu đề: "Muốn bảo hiểm tính mạng nên học gồng Trà Kha do võ sĩ Vũ Ổn ở Hà Nội, vô địch Quy Nhơn 1937 truyền dạy".
Nội dung bài viết: "Một bí thuật của Phật giáo gốc tự Cao Miên, chỉ học trong 3 tối là thành tài. Dao chém, búa bổ, đòn đánh không đau. Khỏe mạnh suốt đời không bao giờ đau ốm vặt. Không kiêng cữ nhiều chỉ kiêng ăn thịt chó, khế, lươn và rắn. Trừ được tà ma. Ở gần xin tới tận nhà. Ở xa xin gởi mandat 3 đồng tiền học phí. 
Các nhà buôn muốn buôn bán phát tài, cửa hàng vắng khách trở nên đông nên lấy bùa chiêu tài. Muốn được bạc, được cá ngựa, đi làm chủ yêu nên lấy bùa thương. Chồng hay chơi bời cờ bạc, hút nghiền nên lấy bùa yêu nhân đạo. Các thứ bùa đều luyện sẵn cả, không mất thì giờ phiền phức. võ sĩ Vũ Ổn đã xuất bản cuốn sách dạy gồng Trà Kha có đủ cách luyện và thuốc, thế võ Nhựt…".
Sự thật về võ phái 'người cứng như sắt' ở miền Nam
Bài quảng cáo về võ sĩ Vũ Ổn trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 273, phát hành ngày 26/8/1939.
Kèm theo bài viết là tấm ảnh chân dung của một võ sĩ trẻ, trạc 18-20 tuổi đang đứng trong tư thể biểu diễn cơ bắp cuồn cuộn.
Đang lúc làn sóng tò mò về võ phái lạ, các võ sư phía Nam đặt mua quyển bí kíp "võ gồng Trà Kha" của võ sĩ Vũ Ổn tới tấp. Khi nhận được quyển sách, các võ sư phía Nam đều nhận được thư khuyến cáo đi kèm: "Muốn luyện thành công võ gồng Trà Kha cần phải có sư phụ truyền dạy. Nếu tự luyện sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, nhẹ thì bán thân bất toại, nặng thì trở nên điên khùng".
Các võ sư phía Nam càng thất vọng hơn, khi nội dung quyển sách chỉ toàn bùa chú, không có chút hơi hướm quyền cước. Nói chung, đó chỉ là một quyển bí kíp luyện bùa.
Một số người tìm cách liên lạc với tác giả thì nghe tin chính quyền Pháp đã bắt giam Vũ Ổn vì "truyền bá mê tín". Không ai biết tin tức về võ sĩ Vũ Ổn nữa.
Bí mật võ phái Trà Kha
Bất ngờ, năm 1950, ban tổ chức võ đài Tinh Võ Học Hiệu tại Sài Gòn tiếp nhận một võ sĩ "độc chiếc" (đăng ký một mình, không đăng ký theo đoàn) lạ mặt, khoảng  40 tuổi đến đăng ký thi đấu. Về nguyên tắc, võ sĩ thi đấu phải đăng ký theo võ đường của mình. Tuy không quy định tuổi tác nhưng hầu như những người từ 40 tuổi trở lên đều trở thành sư phụ, hiếm khi thi đấu. Trong hồ sơ đăng ký, võ sĩ này ghi mình tên là Huỳnh Kim Hên, quê quán Bạc Liêu, môn phái Thiếu lâm Thủy phong thuộc Bắc Phái. Không ai biết Thiếu lâm Thủy phong xuất xứ từ đâu.
Ban tổ chức nghĩ anh ta thuộc dạng "chịu đấm ăn xôi", lên võ đài kiếm tiền cơm gạo tạm nên xếp anh ta thi đấu với một võ sĩ trẻ, không tên tuổi.
Thế nhưng, đêm giao đấu, võ sĩ "độc chiếc" đã làm khán giả cùng các võ sư sửng sốt vì chỉ mới vào hiệp chưa đầy 1 phút, võ sĩ Huỳnh Kim Hên đã hạ knock out đối thủ.
Trận sau, ban tổ chức xếp anh ta thi đấu với một võ sĩ đã thành danh. Ai cũng tưởng, trận này Huỳnh Kim Hên không qua nổi hiệp thứ 2. Tuy nhiên, Huỳnh Kim Hên lại làm những người chứng kiến sửng sốt trước khả năng chịu đòn kinh khủng. Mặc dù bị đối phương đánh bầm dập nhưng cứ sau mỗi lần ngã xuống sàn đài, Huỳnh Kim Hên đều bật dậy được. Cách đánh của Huỳnh Kim Hên mang vẻ quái dị. Anh ta cứ lầm lì lao vào đánh đấm kiểu như xả thân khiến đối phương phải vận hết sức chống đỡ. Gần kết thúc hiệp cuối, võ sĩ thành danh đuối sức, đành giơ tay đầu hàng.
Kể từ đó, một số người tò mò cho người tiếp cận, tìm hiểu. Sau hàng tháng trờilân la làm quen, Huỳnh Kim Hên mới tiết lộ mình thuộc trường phái Trà Kha.
Sau 1 thời gian khuấy động võ đài bằng những trận đánh vô tiền khoáng hậu, bất khả chiến bại, bỗng dưng Huỳnh Kim Hên mất tăm. Ông không đăng ký thi đấu nữa.

Theo Nông Huyền Sơn/An ninh thế giới 

LỄ HẰNG THUẬN: Nghi thức cưới trong chùa

LỄ HẰNG THUẬN: Nghi thức cưới trong chùa

Một vài năm trở lại đây , nhiều đôi ban trẻ làm lễ hằng thuận trong chùa.Đây là một nghi thức cưới đặc biệt được tổ chức trong không gian tâm linh tín ngưỡng của phật pháp, dưới ban tam bảo và sự chứng kiến của các sư tăng , sư ni và quan khách .Hình thức và nghi lễ trong bầu không khí linh thiêng này đã mở rộng ra không gian văn hóa đậm bản sắc của người Việt và ngày càng được đông đảo lứa đôi hưởng ứng .Lí do gì để bước ngoặt quan trọng nhất của đời người , nhiều người đã chọn lễ Hằng thuận?


 * GS - KTS Hoàng Đạo Kính - Thành viên hội đồng di sản văn hóa quốc gia , phó chủ tịch hội KTS Việt Nam :

  Xã hội tự nó quyết định còn do nhận thức và điều kiện hoàn cảnh của mỗi người.Khi con người ta có điều kiện kinh tế , sẽ quý sinh lễ nghĩa , còn nhiều người thì đám cưới chỉ đơn giản với những thủ tục gọn nhẹ sơ đẳng thôi, thậm chí trong mấy năm trở lại đây nhiều nơi ở nước ta người ta làm đám cưới tập thể .Vài chục đến cả trăm đôi vợ chồng cùng tổ chức hôn lễ .Nhưng cũng có những đám cưới nghĩ lễ rất cầu kì và rất kỹ lưỡng.Xã hội hiện này đang gian tâng hóa , một xã hội giai tầng hóa là biểu hiện của một xã hội  sung túc , một xã hội khá giả.Điều đấy cũng nên khuyến khích bởi vì một xã hội tất cả mọi người đều như nhau thì chả bao giờ xã hội ấy phát triển được.Ở đó sẽ không có sự ganh đua , sẽ không có sự giai tầng hóa , không có sự tinh lọc văn hóa.Chúng ta thấy độ chênh về văn hóa của những người hàn lâm thì cao còn văn hóa của mọi người khác thì phải phân tầng.Phân  tầng phụ thuộc ở vị trí xã hội,vốn liếngm tài sản,tri thức, hoàn cảnh xuất thân...Trở lại với lễ Hằng Thuận được tổ chức ở trong chùa là một nghi thức khởi đầu cho hạnh phúc hôn nhân của một người dưới sự chứng giám của Phật pháp và các chư tăng , chư ni.

  Lễ Hằng Thuận đòi hỏi công phu , vốn hiểu biết về văn hóa sâu và để trang trọng thì chi phí cũng không phải là nhỏ, có những người có điều kiện kinh tế mới có thể làm lễ Hằng Thuận quy mô , hoành tráng.
 
   Khi con người ta có nghi thức thì cũng biết tôn ti trật tự và ít nhất trong hôn nhân , sự tham gia của tín ngưỡng góp vai trò lớn trong sự củng cố niềm tin , khát vọng .

    Sự tuân thủ khuân phép giúp cho xã hội cân bằng ít nhất với cá xã hội nói chung và với từng nhóm cộng đồng cũng cần niềm tin , niềm tin sẽ dẫn con người không lầm đường , lạc lối , sống có ý nghĩa và mục đích. Nếu một xã hội không có khuân phép, tôn ti trật tự thì làm sao một xã hội tự điều tiết được và họ cứ bản năng , thả phanh , tùy tiện.
 
   Nghi thức lễ Hằng Thuận này không phải dành cho tất cả mọi người nhưng dành cho một nhóm người có khả năng , có điều kiện và có nhu cầu thì chính sự đa dạng hóa đáp ứng nhu cầu mà nhu cầu không chỉ thuần túy văn học nghệ thuật mà nhu cầu về  chỗ dựa về tinh thần. Và hiểu theo góc độ văn hóa thì đây là văn hóa tâm linh tín ngưỡng .Lễ  Hằng Thuận được tổ chức trong chùa trước ban Tam Bảo , vừa như suối nguồn trong trẻo gội rửa những bụi bặm trần tục để hướng đến sự thanh tịnh, an lành.

* Nhà văn - Sử  gia Hoàng Quốc Hải :
 
     Hôn lễ không chỉ là phong tục mà còn thể hiện nét đặc trưng văn hóa mỗi dân tộc ,mỗi thời đại.Nhưng phong tục và văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa .Đôi bạn trẻ , cô dâu và chú rể làm ngi thức lẽ Hằng Thuận trong chùa thấm nhuần đạo đức Phật giáo.Trong lễ Hằng Thuận đưa con người về với văn hóa lịch sử của cha ông như những họa tiết trang trí cúc , hoa sen,lá đề,rồng, nghê, hạc,phượng được sử dụng trong kiến trúc đình chùa,mỹ thuật của một thời đại lịch sử huy hoàng của dân tộc .Những đồ gốm men nâu, men ngà,men rạn với các lực sĩ ném lao , múa khiên... Ngay cả những hoa văn  mềm mại như hoa cúc, hoa sen... nét văn hóa đặc trưng cho dân tộc qua từng thời đại trong lịch sử đều được tinh tế tái hiện và truyền tải qua cánh thiệp mời, thiệp chúc , các nghi thức truyền thống , từng đường nét, màu sắc , trang trí khánh tiết tới y phục của cô dâu chú rể trong lễ  Hằng Thuận.Từ trang phục , diện mạo cho đến tinh thần lễ Hằng Thuận đấy là thế hệ trẻ hôm nay yêu quê hương đất nước , trân trọng giữ gìn truyền thống lịch sử, tôn vinh nét đẹp văn hóa và niềm tin tự hào của họ tộc và đạo lý ngàn đời : “ Uống nước nhớ nguồn” .

* Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm - phó chủ tịch hội đồng trị sự trưởng ban hoàng pháp TW giáo hội Phật giáo Việt Nam :


    Hôn nhân là một sự kiện cực kỳ quan trọng trong đời sống lứa đôi , là bước ngoặt của sự trưởng thành.Phật tự thuần thành thấm nhuần đạo đức lễ nghi Phật giáo tìm đến niềm an vui trong chánh pháp , xây dựng gia đình hạnh phúc trong chánh pháp .Ngoài những nghi lễ theo truyền thống dân tộc , là phật tử chúng ta nên tổ chức thêm lễ Hằng Thuận ở chùa để kiến tạo cho mình một đời sống an lạc trong hiện tại và một số vốn tối thiểu trong kiếp lai sinh.Quý phật tử tự nguyện giữ gìn ngũ giới , tiến đến tu hành thập thiện,đồng thời trao dồi bốn đức hạnh từ - bi - hỷ - xả , sống một đời sống thiện lành , đạo đức vị tha, nghiêm khắc với mình , khoan dung độ lượng với người,sũy nghĩ điều chánh đáng ,nói lời chánh ngữ,hành nghiệp chánh nghiệp.

   Lễ  Hằng Thuận của Phật giáo là nét văn hóa mang bản sắc dân tộc và phát huy nền tảng trí tuệ , đạo đức tâm linh,định hướng con người sống hữu ích trong đời sống gia đình , xã hội.Lễ  Hằng Thuận là cây cầu nối giữa đạo và đời , là sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa văn hóa truyền thống , đạo đức dân tộc và văn hóa tâm linh của Phật giáo,là nét đẹp văn hóa đặc thù của Phật giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình đối với phật tử.

  Khởi đầu cho một bước ngoặt lớn trong đời mà được tổ chức tại chốn thiền môn nghiêm tịnh thì quả là phước duyên lớn lao cho đôi vợ chồng , sẽ không có một đại tiệc nào có thể sánh bằng Lễ  Hằng Thuận trang nghiêm thanh tịnh như ở chùa .

Từ sự khởi đầu tốt đẹp này ,quý phật tử lại được nghe những lời giáo huấn quý báu do thầy chủ lễ giảng giải về nền tảng quan trong để bảo đảm xây dựng nên một cuộc sống hạnh phúc lâu dài bên vững cho gia đình và cho cả con cháu sau này.Cùng những lời chúc phúc của chư tăng , chư ni trong ngày trọng đại ấy , lương duyên của lứa đôi được mỹ mãn , hạnh phúc được miên trường.
 
  Lễ Hằng Thuận do vậy được xem là dấu ấn sinh động , một kỉ niệm tâm linh vô cùng ý nghĩa trong ngày cưới. Điều này không chỉ không chỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của đôi lứa trong những ngày chung sống bên nhau , mà còn ảnh hưởng tích cực đến những người thân.Nó mang lại nguồn cảm hứng “sống đạo ” rất sâu lắng giữa đời thường mà đôi vợ chồng dễ dàng cảm nhận được và cho tất cả những ai tham dự lễ Hằng Thuận một luồng sinh khí tươi sáng lành mạnh và thánh thiện. Lễ Hằng Thuận có ý nghĩa tiêu biểu bao hàm trong ý thơ :” Bạch niên giai lão /Sắt cầm hòa hợp/Loan phượng trình tường/Công danh thành đạt/ Cát tường như ý”.

 * Thượng Tọa Thích Huệ Thông - Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Bình Dương :

  Có tình trạng phổ biến đang diễn ra trong đời sống hôn nhân gia đình của xã hội ta hiện nay là do yêu thương mà không có chuẩn bị cho nền tảng hạnh phúc gia đình lâu dài nên dẫn đến xung khắc, đổ vỡ sau khi lập gia đình. Trong đời sống thế gian ,sở dĩ gia đình không hạnh phúc , cuộc sống không hòa hợp là do sự bộc phát của lòng ham muốn nhất thời , có thể gọi đó là sự luyến ái nhau và cùng có thể gọi là tình yêu thương nhất thời giữa nam và nữ.Đứng trước nguy cơ và đổ vỡ như vậy,Phật giáo có vai trò trợ duyên cho các gia đình phật tử.

 Lễ Hằng Thuận là nghi thức tương đối đặc biệt danh riêng cho lễ cưới được tổ chức trang nghiêm trọng thể trong chùa.Nghi thức Hằng Thuận trong ngày cưới mang đậm dấu ấn đạo đức tâm linh và trí tuệ của đạo Phật , cùng với những định hướng rất cụ thể giúp cho đôi vợ chồng có được một tương lai lạc quan tươi sáng trên tinh thần giác ngộ giải thoát.

  Mục đích chính của lễ Hằng Thuận là làm thế nào để cho đôi vợ chồng ý thức được tầm quan trọng của nền tảng đạo đức tâm linh trong đời sống gia đình , để từ đó hướng đến đời sống hôn nhân thật sự an lạc hạnh phúc. Để thực hiện được điều này , trước hết đôi vợ chồng phải hết lòng yêu thương nhau , chung thủy,tôn trọng, quý kính lẫn nhau và luôn luôn hòa thuận với nhau và cùng nhau hướng đến những điều thánh thiện và cao thượng trong cuộc sống như hàm nghĩa của hau từ Hằng Thuận toát lên.

  Lễ Hằng Thuận đã tạo điều kiện cho các cô dâu chú rể được đảnh lễ chư Phật , được quy y Tam Bảo, được chư tăng đứng ra chứng minh hôn sự trong bầu không khí linh thiêng nơi chán điện,được quý thần tận tình hướng dẫn đạo lý vợ chồng trong đời sống hôn nhân như lờiđức Phật đã dạy trong kinh Thiện Sanh hay kinh Ca Thi La Việt ... chủ yếu xoay quanh đạo nghĩa vợ chồng.


 Nếu quý phật tử triển khai thực hành những lời dạy của đức Phật xây dựng một đời sống bình đẳng,tôn trọng, thủy chung,cảm thông, chia sẻ yêu thương gắn bó cùng hướng đến một chân trời thánh thiện thì chắc chắn hạnh phúc sẽ ở trong tầm tay của mỗi gia đình , khi đó đời sống gia đình sẽ không có sự xung khắc , không còn đau thươngvà sẽ không còn cảnh tan đàn sẻ nghé, cha mẹ xa lìa con cái,quý phật tử sẽ đạt được một đời sống an lạc hạnh phúc, đây chính là lợi ích lớn lao từ lễ Hằng Thuận mang lại.
  



                                                        
Mỹ Trân - An ninh thế giới
( mytrantcsk@yahoo.com)



 



LAI LỊCH NGÔI MIẾU LINH THẦN: CỨU NẠN NGƯ DÂN

Sau nhiều lần trùng tu, từ miếu thờ Long Vương, giờ biến thành
miếu thờ cậu Tài, cậu Quí
Dinh Cậu tọa lạc cạnh ngọn hải đăng Phú Quốc ở khu phố 2, thị trấn Dương Đông ( huyện Phú Quốc , tỉnh Kiên Giang ) là một trong những địa chỉ lí tưởng để trú bão đối với ngư phủ biển cả khu vực nam Thái Bình Dương . Trước thế kỉ XVII , nơi đây chưa có ngọn hải đăng , tàu bè trong khu vực đã xem Dinh Cậu là điểm “thị tiêu”đã xác định tọa độ.

Suốt hơn 300 năm tồn tại,Dinh Cậu ẩn chứa nhiều câu chuyện huyền bí thú vị được ngư dân truyền đến tận ngày nay. Do “tam sao thất bản “ nhiều lần và suốt hàng thế kỷ qua , những câu chuyện về Dinh Cậu không còn nguyên mẫu như xưa nữa.

Giai thoại sóng Long Vương cứu người

Chuyện xưa kể rằng , ngư phủ đi biển gặp bão chỉ cần chạy tàu vào cửa biển Dương Đông trú ẩn sẽ thoát nạn . Rất nhiều lần người ta đứng tại cửa Dương Đông chứng kiến cuồng phong thịnh nộ quật tan nát những chiếc tàu bên ngoài cửa biển, trong khi những chiếc tàu neo đậu trong cửa biển vẫn bình yên vô sự. Từ hiện tượng đó, người ta tin rằng có linh thiêng ngự trị nơi cửa biển nên cuồng phong không dám mon men gần bờ.Người ta lại chứng kiến nhiều lần , những chiếc tàu gặp nạn ở tít khơi xa được một ngọn sóng lớn nâng lên cao rồi đẩy vào tận bờ cửa Đông Dương một cách an toàn.

Ông Nguyễn Khải , 57 tuổi ,là một “ ngư phủ từ khi còn là trứng nước “ - tự nhận như vậy - kể rằng “ Tôi tự hào là cư dân rặt ròng của Phú Quốc . Tổ tiên tôi lập nghiệp trên đạo này từ xưa. Sống trên đảo , chúng tôi cứ bám mặt biển mà thu lượm của trời.Cha tôi kể rằng, ông cố tôi , ông nội tôi và chính ông từng chứng kiến và được sóng Long Vương cứu nạn ở Đông Dương . Cha tôi kể hồi năm 1932 , ông đi đánh lưới rùng thì gặp bão. Con tàu bị đánh nát tả tơi , gãy bánh lái .Bạn trên tàu chỉ còn biết chắp tay khấn cầu đấng linh thiêng . Bông dưng xuất hiện một ngọn sóng cao hàng chục mét. Ngọn sóng nâng con tàu của cha tôi lên tận trên đỉnh rồi đưa vào bờ. Từ mạn tàu nhìn xuống hướng đảo , cha tôi còn trông thấy mấy ngọn cây cổ thụ nhỏ xíu như ngon tay . Vậy mà, ngọn sóng hạ con tàu xuống bãi cát êm ru.Mọi người thoát chết .Sau chuyến biển đó , tháng nào cha tôi cũng đến miếu Long Vương cúng bái”.

Ông Khải cũng khẳng định, Dinh Cậu là do người dân địa phương đời sau quen gọi. Tên chính thức hồi xưa của ngôi miếu  là “Long Vương thần miếu “, tức miếu thờ Long Vường .Ban đầu ,ngư dân lập ngôi miếu trên mỏn đá ven bờ Dương Đông để thờ “sóng Long Vương “.
Theo mô ta , “sóng Long Vương “ có hình thù như con rồng nên ngư phủ tin rằng , đó là hiện thân của Long Vương cứu người gặp nạn trên biển.

Thuở ban đầu, miếu được cất bằng vật liệu thô sơ trên đỉnh một hòn đá lớn nhất trong quần thể các hòn đá nơi cửa Dương Đông được gọi là hòn Quy vì có hình thù giống đầu một con rùa.Ngôi miếu không có biển danh môn nhưng ai cũng gọi là miếu Long Vương .Quần thể đá này nằm chơi vơi nơi mép nước.Hòn lớn nhất cao khoảng 30 mét so với mặt nước biển .Cạnh hòn Quy còn một số mỏm đá vôi lớn mang hình thù kỳ dị mà người ta liên tưởng là bầy cá sấu.

Trước mỗi chuyến ra khơi , ngư phủ đều ghé tàu vào miếu cầu an , cầu xin Long Vương phù trợ chuyến đi biển an toàn.

* Ông “ CẬU “ là ai?

Nhiều bậc kỳ lão được sinh ra trên đảo khẳng định rằng , hồi đầu thế kỷ XX có một người đàn ông lạ xuất hiện tại ngôi miếu Long Vương . Lúc đầu, ông tá túc trong miếu, tự làm các công việc quét dọn,nhang đèn .Ông tịnh khẩn , không không nói chuyện mà chỉ ra dấu nên không ai biết quê quán , gốc gác ở đâu.Mọi người chỉ đoán ông là người từ đất liền ra đảo tìm chốn tu hành. Một thời gian sau , ông ta không ở trong miếu mà chui xuống hang dưới lòng hòn đá lớn quy ẩn. Ông dùng đá tự lấp cửa hang . Nhiều người lo ông chết đói đã đem cơm chay đến đặt trước cửa hang nhưng thây ngay sau vẫn còn nguyên.

Ông ta ở ẩn tu suốt 2 năm liền như thế. Một ngày nọ , người ta thấy ông ra khỏi hang , trở lên miếu Long Vương tiếp tục công việc của một thủ từ. Lần xuất hiện này , ông chịu nói chuyện nhưng rất kiệm lời. Mỗi khi mở miệng ,ông thường tiên tri hậu vận cho những người đến miếu Long Vương lễ bái.Vào những ngày 15, 16 tháng 10 âm lịch hàng tháng ,ông ta tự ngồi giá ,lên đồng để phát lộc cho các ngư phủ đến cúng.

Đến những 15, 16 tháng 10 âm lịch hàng năm ông tổ chức lễ cúng Long Vương .Trong buổi cúng ,ông cũng để lên đồng ban phát bùa cầu àn, phát tài. Từ đó , dân quanh cùng gọi ông là “Cậu”. Nhiều người dân trên đảo đánh trúng luồng cá trở nên giàu có đã tin rằng nhờ lộc Cậu cho . Ho bỏ tiền ra trùng tu và xây ngôi miếu Long Vương .

*CÁI TÊN “DINH CẬU” BẮT ĐẦU XUẤT HIỆN TỪ ĐÓ

Khoảng năm 1940 , một toán lính Pháp trên đảo bất thần ập vào ngôi miến Long Vương bắt ông Cậu đưa đi.Từ đó không ai còn trông thấy ông nữa .Có người cho rằng , sau đó,lính Pháp có thả ông ra.Là người “trời’lại bị lính Pháp bắt ,ông Cậu giận dỗi bỏ dương trần trở về trời trú ngụ.Thế là một số người đến miếu không cầu khấn Long Vương phò trị nữa mà chỉ khấn ông Cậu. Dần dà , người ta quên hẳn nơi đó từng là ngôi miếu Long Vương . Sau khi trùng tu những người đời sau khắc hẳn lên cửa miếu hàng chữ “ Dinh Cậu “.Đó là nguyên nhân dẫn đến ngộ nhận về vị linh thần trấn ngôi miếu.

Ngày nay , nơi đó không chỉ mỗi Dinh Cậu ( tức miếu Long Vương )là kiến trúc duy nhất .Hang đá mà ông Cậu quy ẩn ,tịnh tu được gọi là “thạch sơn động”.Chiếc cổng dưới chân hòn đá lớn có tấm biển ghi “Dinh Cậu”.Ven cổng lên núi là một ngôi miếu Thổ thần.Đường lên miếu gồm 29 bậc đá.Bên ngoài

ngôi miếu thờ Long Vương là bàn thờ “ thông thiên “.Bên trong ngôi miếu thờ Long Vương , của ông Cậu mà là 3 nhân vật thuộc về tín ngưỡng ...Chăm tức Bà Chúa Ngọc cùng 2 cậu con trai là Cậu Tài ,Cậu Quí.

Hiện nay ,nhiều giai thoại huyễn hoặc liên quan đến Dinh Cậu đươc du khách lưu truyền rộng rãi từ Nam trí Bắc.Hầu hết những giai thoại “ hiện đại”ấy đều xuất phát từ việc thờ sai đối tượng trong miếu Long Vương .Giai thoại hiện đại này cho rằng , linh thần Dinh Cậu là “Cậu Taì Cậu Quí “.

Theo tín ngưỡng dân gian ,Cậu Tài,Cậu Quí rất mê cờ bạc , đá gà.Chính vì nghĩ Dinh Cậu thờ “ Cậu Tài Cậu Quí “ nên rất nhiều “ hảo hán cờ bạc”từ Nam chí Bắc đã đua nhau về đây cúng kiếng.Trong số đó có rất  nhiều gương mặt cộm cán trong giới giang hồ như Năm C,D “hà “O “hà”,H”sự”,M “xăng”,Ch”lò thiêu “...từng đến cúng tiến 2 Cậu ít nhất một lần.Nhiều đại gia đầu tư sòng bạc ở tuyến giáp biên Canpuchia - Việt Nam cũng lò mò đến cúng bái, váy lạy sì sụp vào các ngày rằm trong tháng .Hiện tượng lên đồng cho số đề,cá cược bóng đá cũng âm ỉ, ngấm ngầm xảy ra ở Dinh Cậu.Một nét tín ngưỡng cầu an của ngư dân đã bị ô uế.

*TRUYỀN THUYẾT VÈ GIA LONG BÔN TẨU TÂY SƠN

Thời nhà Nguyễn có ghi nhận một truyền thuyết cho rằng “ Cậu Tài ,Cậu Quí”là 2 anh em ruột đều là con của Thánh Mẫu Chúa Ngọc Nương Nương , tức ,tức nữ thân thiên Y A Na - Poh Yang Inư Nagar ( theo tin ngưỡng Chăm ).Truyền thuyết này có xuất xứ tận Nha Trang cùng thời gian xuất hiện miếu Long Vương ở Phú Quốc.

Một luồng truyền thuyết khác cho rằng 1777 , trong cuộc bôn tẩu ,Nguyễn Ánh , bị quân Tây Sơn truy đuổi có đến lánh nạn tại hòn đảo Phú Quốc.Tại đây,đoàn tàu của ông bị mắc cạn tại rặng đá ngầm ở một mũi đảo .Trong cơn nguy khốn ,Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng khẩn cầu Bà Chúa Ngọc phù hộ độ trì .Ông hứa , sau khi lấy lại được vương triều sẽ phong sắc “ Thượng Đẳng Linh Thần “ cho bà.

Sau khi khấn xong , bỗng có một ngư phủ trên bờ trông thấy tàu mắc cạn đã dùng dây rừng kéo tàu ra khỏi chỗ nông và đưa mọi người lên bờ an toàn .Ngư phủ được Nguyễn Ánh phong ngay cho chức “ đội “.Nơi đó được Nguyễn Ánh đặt tên mũi Ông Đội.

Khi lên bờ,Nguyễn Ánh dùng kiếm cắm xuống một khe đá ven bờ để lấy nước ngọt , đồng thời in dấu giày trên một tảng đá để làm chứng tích.Nhớ lời hứa , sau khi lấy  lại được vương triều,Nguyễn Ánh sắc phong cho Bà Chúa Ngọc và cất ngôi thờ tại Dương Đông .Vì thế ,Dinh Cậu là nơi thờ Cậu Tài ,Cậu Quí là đúng. Những người đồng ý với giả thuyết này còn khẳng định, tại một bãi biển hoang sơ có tên gọi là mũi Ông Đội, thuộc An Thới,Phú Quốc vẫn còn lưu dấu tích Nguyễn Ánh bôn đào.
Tuy nhiên , hầu hết những nhà nghiến cứu về Phú Quốc đều phủ nhận điều đó .Để xác tín thông tin , chúng tôi đến tận mũi Ông Đội.Đó là một mũi đá nhô ra biển nằm chơi vơi nơi hẻo lánh , hoang sơ vẫn còn khỉ rừng cư trú . Để đến đó chúng tôi phải thuê tàu từ bãi Sao ( An Thới ) chạy men theo vách đá hơn nửa giờ.

Quả nhiên , tại đây vẫn còn một số  “ hiện vật “ của Nguyễn Ánh như : Ngai vua,giếng ngự,dấu giày bag một ngôi miếu thờ .Tuy nhiên “ hiện vật “ được gọi là “ Ngai vua “ chỉ là một  phiến đá có hình thù giống chiếc ghế bành ,giếng ngự được ngư dân địa phương xây xi măng bao quanh chỉ là một mạch nước khẽ chảy ra từ lỏng đảo ,dấu giầy in trên đá trông giống như bàn tay chạm khắc của con người .Riêng ngôi miếu thì có vẻ như đã tồn tại ở nơi đó rất lâu. Và chính ngôi miếu thờ Vua Gia Long đã xác tin rằng , Dinh Cậu không liên quan gì đến việc Nguyễn Ánh bôn đảo ra Phú Quốc.Bởi , nếu vua Gia Long có sắc phong thì cũng trao cho nơi ông ta trú ngụ , tức mũi Ông Đội đến Dinh Cậu là một khoảng cách hơn 15 km.

Thạch Sơn Động - nơi ông cậu ẩn tu
Rất nhiều người khẳng định , tuy nhiều lần trùng tu nhưng những câu liễn chứ Hán vẫn còn được chạm khắc lại theo nguyên nghĩa của ngôi miếu cũ xưa như : “ Tọa đại thạch đầu quy danh hiển “( ngôi miếu nổi tiếng có vị trí tọa lạc ở mỏm đá lớn giống đầu con rùa ). “ Vạn cổ anh linh thông tứ hải “ (Ngôi miếu linh thiêng vang khắp bốn biển từ xưa ).” Chấn phong bình lượng bảo lương dân “ .( Ngôi miếu như tấm bình phong bảo vệ dân lành ) . “ Phong điếu vũ thuận dân an lạc “ ( Giữ mưa thuận gió hòa cho dân cư an lạc .) Từ ý nghĩa những câu liễn này cho thấy , về căn cứ vào những câu truyện truyền khẩu của các bậc cao niên sinh sống trên đảo thì ngôi miếu Dinh Cậu chỉ thời Long Vương  - một tín ngưỡng dân gian lưu truyền của ngư dân vùng biển.

Những cư dân địa phương cho biết , 3 lần trùng tu gần nhất được ghi nhận ;à 14 -7 -1937 , ngày 14 -7 -1997 và năm 2009 .

Cuộc trùng tu  năm 1937 , miếu được cất thành mái toi , vách vôi,trên biển có ghi là “ Thạch Sơn Động “ .Cuộc trùng tu ngày 14 - 7 - 1997 , người ta vẫn ghi trên biển là “ Thạch Sơn Động “ . Mặc dù nơi cổng dưới chân núi lại ghi là “ Dinh Cậu “. Lần trung tu gần nhất là năm 2009 , trên biển ngôi miếu bông xuất hiện dòng chữ  “ Dinh Cậu “ cho đến ngay nay. Kể từ sau lần trùng tu năm 1997 , trên bàn hương án mới xuất hiện cặp tượng thờ Cậu Tài ,Cậu Quí và Chúa Ngọc .
Đã từ lâu ,Dinh Cậu trở thành một biển tượng của niềm tin để ngư dân yên tâm bám biển , bám ngư trường.Cho dù phán xét Dinh Cậu ở khía cạnh phi tín ngưỡng thì ngư dân địa phương vẫn xem đó là biểu tượng khẳng định chủ quyền đất nước từ mấy trăm năm trước. Ngoài ra ,Dinh Cậu còn là một địa chỉ du lịch nổi bật  của huyện đảo Phú Quốc .

Thiết nghĩ , các nhà nghiến cứu của địa phương cần xác định rõ và thiết lập một giai thoại nhất quán cho Dinh Cậu để khách du lịch có cơ hội chiêm nghiệm một nét văn hóa của đời sống ngư phủ xưa trên đảo. Ngoài ra, chính quyền địa phương cũng cần xem xét lại “ kịch bản “cúng cầu ngư , cầu an nguyên Mẫu của Dinh Cậu , không để một lễ hội của ngư dân biến thành dị bản. Hoặc , ít nhất, không biến Dinh Cậu thành một địa chỉ ...xin số đề, cầu thắng độ bóng đá.                                                    

                                                            ( THÀNH DŨNG - HUYỀN SƠ)

Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại

Khoảng 100 triệu người bỏ mạng vì xung đột giữa thổ dân và người châu Âu trên lục địa châu Mỹ, trong khi chừng 60 triệu người chết vì các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.


Nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương bắt đầu từ thế kỷ 16, đạt đỉnh thế kỷ 17, rơi vào thoái trào và chấm dứt vào thế kỷ 19 Nó bùng phát do nhu cầu thiết lập và khẳng định sự hùng mạnh của các đế chế tại châu Âu trong thế giới mới. Những người châu Âu và châu Mỹ chủ yếu sử dụng các nô lệ Tây Phi để làm việc trong các đồn điền. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều giả thuyết về số nô lệ tử vong trong thời kỳ này. Tuy nhiên, con số 15 triệu người phần nào phản ánh mức độ khốc liệt của nạn buôn người. Theo thống kê của họ, 4/10 nô lệ phục vụ trên tàu thiệt mạng vì chủ nô ngược đãi.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Hơn 30 triệu người chết trong thời kỳ chuyển giao quyền lực cuối nhà Nguyên, đầu nhà Minh. Khả hãn Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát Tư Hãn, là người lập ra triều đại nhà Nguyên năm 1260. Tuy nhiên, đây là một trong số những triều đại ngắn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó tồn tại gần một thế kỷ, từ năm 1271 tới 1368. Trong suốt thời kỳ ấy, dân chúng phải hứng chịu nhiều nỗi thống khổ. Họ phải sống trong loạn lạc, chiến tranh và nạn đói. Sau đó, nhà Minh đoạt quyền lực từ nhà Nguyên.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Hơn 36 triệu người chết trong cuộc binh biến An Lộc Sơn ở Trung Quốc. Khoảng 500 năm trước khi nhà Nguyên ra đời, nhà Đường thống trị Trung Quốc. An Lộc Sơn, một võ tướng thống lĩnh quân đội phía bắc, tạo phản và lập ra nhà An. Cuộc binh biến An Lộc Sơn kéo dài từ năm 755 tới năm 763. Cuối cùng nhà Đường cũng đánh bại nhà An, thống nhất giang sơn.

Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Trong lịch sử thế giới, Thành Cát Tư Hãn là một trong những người "nhuốm máu thiên hạ" nhiều nhất. Dưới sự lãnh đạo của ông, đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Diện tích đất của đế chế Mông Cổ chiếm 16% diện tích bề mặt trái đất. Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ. Con số ấy có thể tăng cao hơn nếu đội quân của Thành Cát Tư Hãn hướng sang phía tây để xâm lược các nước châu Âu.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Đại chiến thế giới thứ nhất là sự kiện tiếp nối chuỗi những vụ việc đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới. Trong cuộc chiến, khoảng 65 triệu người đã mất mạng. Vào năm 1914, thời điểm các đế chế tại châu Âu bắt đầu khẳng định tầm ảnh hưởng, họ chia thành hai phe và gây chiến để tranh giành sự thống trị. Cuộc chiến đã chia cắt châu Âu và kéo phần còn lại của thế giới vào vòng xoáy chiến tranh. Chiến thuật chiến tranh lỗi thời làm gia tăng số lượng binh lính tử trận.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939. Các thế lực chia thành hai phe, tự xưng là phe Đồng minh và phe Phát xít. Trong giai đoạn giữa Đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, các nước đã chế tạo nhiều cỗ máy giết người trên không, dưới biển và phát triển các loại phương tiện chiến đấu hạng nặng hay vũ khí tự động. Một số quốc gia còn sản xuất các loại bom lớn để phục vụ cuộc chiến. Phe Đồng minh giành thắng lợi sau cùng. Tuy nhiên họ cũng phải trả một giá đắt. 85 % trong tổng số 72 triệu người thiệt mạng thuộc về phe Đồng minh. Liên Xô và Trung Quốc hứng chịu tổn thất nặng nề nhất. 
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Khi Christopher Columbus, John Cabot cùng các nhà thám hiểm khác phát hiện châu Mỹ ở thế kỷ 15, đó dường như là khởi đầu của một kỷ nguyên. Châu Mỹ trở thành thiên đường mà các nhà thám hiểm châu Âu gọi là ngôi nhà mới của họ. Tuy nhiên, vùng đất này không phải mảnh đất vô chủ bởi thổ dân bản địa đã sinh sống tại đây. Cuộc xung đột giữa "chủ mới" và "chủ cũ" đã khiến khoảng 100 triệu người thiệt mạng. Bên cạnh chiến tranh và các cuộc xâm chiếm, các căn bệnh lan từ châu Âu cũng cướp sinh mạng của vô số người dân bản địa. Theo ước tính của giới học giả, 80 % thổ dân châu Mỹ chết do tiếp xúc với người châu Âu nhiễm bệnh.
Nguyễn Thái
Ảnh: history.com

Những nữ trùm xã hội đen khét tiếng nhất mọi thời đại (kỳ 2)

Từ một bà nội trợ khiêm tốn, một phụ nữ ở Italy đã trở thành nữ trùm mafia và tham gia tất cả các hoạt động tống tiền, sản xuất tiền giả, buôn ma túy.

Stephanie St. Clair, nữ trùm ma túy khét tiếng ở Harlem

Stephanie St. Clair là một trùm ma túy nổi tiếng với biệt danh “Queenie”. Ảnh: Listverse
Stephanie St. Clair là một phụ nữ châu Phi gốc Pháp, nổi tiếng với biệt danh “Queenie”. Năm 1912, Clair di cư đến khu Harlem, thành phố New York, Mỹ. Năm 1922, bà dùng 10.000 USD mở tài khoản ngân hàng và gia nhập băng đảng đường phố 40 Tên cướp.
Với tham vọng kiếm tiền, Clair tách khỏi 40 Tên cướp và lập băng đảng riêng. Trong vòng một năm, bà thu nạp 50 người, bao gồm huyền thoại xã hội đen ở Harlem, Bumpy Johnson. Năm 1923, tài sản của Stephanie St. Clair lên đến 500.000 USD – tính theo giá trị hiện nay là 6.750.000 USD. Tuy nhiên, khi thu nhập của bà đạt mức 200.000 USD/năm, thời kỳ buôn lậu rượu dần lụi tàn và suy thoái kinh tế diễn ra. Nhiều ông chủ ở New York bắt đầu thua lỗ và nhắm mục tiêu vào Clair. Tên cướp khét tiếng Hà Lan Schultz tiến hành những cuộc xung đột đẫm máu với băng đảng của Clair khiến khoảng 40 người thiệt mạng.
Clair cho rằng cảnh sát chống lưng cho Schultz nên đã cáo buộc họ tội tham nhũng trên các tờ báo ở Harlem. Các nhà điều tra giận dữ và bắt nữ trùm. Trước khi ra tòa, Clair hối lộ các quan chức từng hợp tác với bà. Sự việc vỡ lở, chính quyền thành phố tước phù hiệu của một số cảnh sát, theo Blackpast.
Cuối cùng, Queenie không còn đủ tài lực và nhân lực để chống lại tên cướp. Bà ta buộc phải ký thỏa thuận ngừng bắn, chuyển giao quyền kiểm soát phần lớn hoạt động vào toàn bộ lợi nhuận trong năm đó cho Schultz và mafia Italy. Điều này đồng nghĩa với việc Clair rút lui khỏi giới buôn ma túy.
Raffela D’Alterio, từ bà nội trợ đến nữ trùm mafia
Cảnh sát bắt nữ trùm Raffela D’Alterio, tịch thu tài sản có giá trị lên đến hàng triệu USD. Ảnh: EPA
Cảnh sát bắt nữ trùm Raffela D’Alterio, tịch thu tài sản có giá trị lên đến hàng triệu USD. Ảnh: EPA
Raffela D’Alterio là mẹ đỡ đầu của một trùm mafia Italy, kẻ đã lãnh đạo băng đảng mafia gia đình Camorra. Ban đầu, D’Alterio chỉ là một bà nội trợ khiêm tốn ở thành phố Naples, Italy. Năm 2006, sau khi chồng bà, Nicalo Pianese bị giết hại, D’Alterio bắt đầu tiếp quản các tổ chức tội phạm của chồng.
Bà ta tham gia tất cả các hoạt động tống tiền, sản xuất tiền giả, buôn ma túy. Sau khi thoát chết từ một vụ đấu súng, D’Alterio nổi lên với biệt danh “Miconia” hay “The Big Female Kitten”, theo Huffingtonpost. Người ta đồn rằng bà ta dường như có 9 mạng.
D’Alterio cũng tích cực đầu tư vào kinh doanh. Bà thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các phe phái trong băng đảng mafia Camorra trong lĩnh vực kinh doanh hàng giả, xử lý chất thải và xây dựng. Nhà chức trách Italy ước tính công ty của D’Alterio có doanh thu khoảng 218 tỷ USD/năm.
Năm 2012, cảnh sát đột kích nhà các thành viên trong tổ chức D’Alterio. Họ bắt bà ta và 65 người khác vì tội vi phạm bản quyền nghiêm trọng. Ngoài ra, cảnh sát cũng tịch thu nhiều xe hơi và bất động sản với tổng trị giá lên đến 20 triệu USD.
Rosetta Cutolo, nữ trùm quyền lực nhất mọi thời đại
Rosetta Cutolo là một trong những nữ trùm quyền lực và giàu có nhất mọi thời đại. Ảnh: AFP/Getty Images
Rosetta Cutolo là một trong những nữ trùm quyền lực và giàu có nhất mọi thời đại. Ảnh:AFP/Getty Images
Sinh năm 1937, Rosetta Cutolo là em gái của cựu thủ lĩnh băng đảng mafia Cammora, Raffaele Cutolo, cũng là người đứng đầu tổ chức Nuova Commora (NCO). Khi cảnh sát bắt Raffaele, hắn cảm thấy Rosetta là người duy nhất đáng tin nên giao toàn bộ quyền kiểm soát gia đình tội phạm cho bà ta.
Qua những buổi thăm tù, Rosetta hoàn thành các nhiệm vụ anh trai giao phó. Bà nhanh chóng trở thành đại diện của NCO và nắm giữ quyền lực đằng sau gia đình Cammora. Khi đàm phán giao dịch với một băng đảng ma túy ở Nam Mỹ, Rosetta cố cho nổ tung một đồn cảnh sát địa phương. Chi tiết này truyền cảm hứng cho nhà làm phim Corrista, bộ phim mô phỏng theo cuộc đời nữ trùm Cutolo.
Với tổng tài sản lên tới hàng tỷ USD, NCO nắm giữ quyền lực ở mọi lĩnh vực, từ chính trị đến xử lý chất thải. Họ thậm chí nắm quyền kinh doanh quan trọng đối với các mặt hàng sữa, cá, cà phê ở Italy. Trong 15 năm, Rosetta Cutolo trở thành một trong những nữ trùm quyền lực nhất mọi thời đại. Bà ta rất thành công và hưởng thụ cuộc sống xa hoa trong một tòa lâu đài với 365 phòng.
Năm 1981, cảnh sát tiến hành một cuộc vây quét lớn dẫn đến sự sụp đổ của Cutolo. Bà có thể đã lẻn vào một lối đi bí mật và trốn thoát trong 12 năm. Năm 1993, cảnh sát bắt bà ta tại một nơi ẩn náu. Rosetta Cutolo đầu hàng vì đã quá mệt mỏi với việc chạy trốn, theo Independent. Cảnh sát buộc người phụ nữ này tội dính líu đến mafia. Sau khi luật sư bào chữa giúp Rosetta thoát khỏi 9 tội danh giết người, tòa tuyên bà ta 9 năm tù. Sau đó, mức án của nữ trùm giảm xuống 5 năm.
Maria Licciardi, trùm mại dâm tàn bạo
Maria Licciardi là nữ trùm mại dâm tàn bạo. Ảnh: EPA
Maria Licciardi là nữ trùm mại dâm tàn bạo. Ảnh: EPA
Maria Licciardi, Italy, là em gái của người đồng sáng lập tổ chức Secondigliano Alliance (SA), Genaro Licciardi. Sau khi chồng và anh em bị sát hại, Maria Licciardi lên cầm quyền. Bằng khả năng lãnh đạo xuất chúng, bà giúp SA tránh thoát sự trừng phạt của pháp luật. Người ta gọi bà là “Chủ của Chủ”.
Hoạt động chủ yếu của SA là tống tiền và buôn ma túy. Licciardi tập trung củng cố liên minh với gia tộc Lu Russo. Trước đó, SA có một quy luật bất thành văn cấm buôn bán cơ thể phụ nữ. Vì lợi nhuận to lớn, Licciardi bất chấp quy định của bang phái. Bà ép những phụ nữ mại dâm dùng thuốc 24/7 và ra tay sát hại khi họ không còn giá trị.
Bởi vì Licciardi luôn đóng vai một người tốt bụng chuyên hỗ trợ việc làm cho người dân ở thành phố Naples, mọi người rất yêu quý bà và SA. Tuy nhiên, liên minh với gia tộc Lu Russo lại trở thành nguyên nhân thất bại. Năm 1999, sau một chuyến hàng heroin tinh khiết loại mạnh, nữ trùm lo sợ nó sẽ giết chết khách hàng và ảnh hưởng đến căn cơ của mình. Gia tộc Lu Russo, với lòng tham không đáy, tiếp tục phân phối heroin và giết 11 người chỉ trong một tháng,Abcnews đưa tin.
Vụ việc khiến các nhà điều tra chú ý. Gia tộc Lu Russo phá vỡ liên minh, hai bên bắt đầu giao chiến bằng các vụ đánh bom và đấu súng trên đường phố. Sau khi hơn 20 người thiệt mạng, Licciardi bỏ trốn đến một nơi ẩn náu xa hoa.
Cảm thấy áp lực từ các cuộc điều tra, nữ trùm ném bom văn phòng luật sư địa phương với hy vọng buộc họ dừng điều tra. Tuy nhiên, chính quyền kiên quyết truy quét. Hai năm sau, họ có thể tóm Licciardi với một số tội danh. Dù nữ trùm vào tù, nhiều người đoán rằng bà ta vẫn tiếp tục điều hành tổ chức SA.
Griselda Blanco, trùm ma túy khát máu
Griselda Blanco, trùm ma túy khát máu, dính líu đến hơn 200 vụ giết người. Ảnh: Magnolia Pictures
Griselda Blanco, trùm ma túy khát máu, dính líu đến hơn 200 vụ giết người. Ảnh:Magnolia Pictures
Năm 2006, Griselda Blanco, nữ trùm ma túy ở Mỹ, trở thành một biểu tượng quốc gia sau khi bộ phim tài liệu Cao bồi Cocaine công chiếu. Bộ phim lấy tư liệu từ cuộc sống và những cuộc giao dịch của Blanco trong băng đảng ma túy Medellin. Theo ước tính, trong những năm 80, bà ta kiếm khoảng 80 triệu USD mỗi tháng.
Bà nổi tiếng là một nữ trùm khát máu. Năm 11 tuổi, Blanco trở thành kẻ sát nhân khi bắt cóc và giết hại một cậu bé vì gia đình nạn nhân không thể trả tiền chuộc. Bà thậm chí còn sát hại 3 ông chồng và nhận lấy biệt hiệu “Góa phụ Đen”. Trong cả cuộc đời, Blanco dính líu đến hơn 200 vụ giết người, theoBiography.
Sau vụ Blanco giết các cháu gái của nhà cung cấp người Colombia, các thành viên trong Medellin chống lại bà ta. Cùng với đó, cảnh sát bắt đầu truy lùng nữ trùm vì các vụ giết người ở thành phố Miami, bang Florida. Blanco buộc phải chạy trốn. Năm 1985, cảnh sát tống bà vào tù vì liên quan đến 3 vụ giết người. Tuy nhiên, họ buộc phải thả bà ta vào năm 2004 vì những trục trặc trong quá trình truy tố. Các nhà chức trách trục xuất Blanco và Colombia, nơi bà bị bắn chết vào năm 2012.

Nguyễn Sương - zing.vn

Top