ads

Slider[Style1]

Style2

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style4

Style5

Style5

Style5

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Style3[OneLeft]

Style3[OneRight]

Christopher Columbus và hành trình kỳ vĩ tới Châu Mỹ

Columbus khẳng định con đường thuận tiện nhất để đi tới Nhật Bản và Đông Á là đi thuyền vượt Đại Tây Dương về hướng Tây, nhưng không ngờ lục địa lớn châu Mỹ đã chắn đường của ông.


Sáng sớm 12/10/1492, trên cuộc hành trình đi tìm Ấn Ðộ bằng đường biển, nhà hàng hải Christopher Columbus đã khám phá ra châu Mỹ, miền đất chưa ai biết đến. Ðây là một sự kiện lịch sử, mở đầu cho việc tìm hiểu Tân thế giới và dẫn tới việc phổ biến nền văn minh tây phương trên lục địa này.
Dường như khao khát chinh phục thế giới đã được nuôi dưỡng trong con người Christopher Columbus ngay từ thuở nhỏ. Ông sinh năm 1451 tại thành phố Genoa của Italy, nhưng năm 1476 ông đến sống ở Bồ Đào Nha. Một sự thay đổi địa lý lớn như vậy đã ảnh hưởng nhiều đến Columbus. Tại Bồ Đào Nha, ông đã tham gia rất nhiều cuộc viễn du với những người đi biển ở nước này.
Ở thế kỷ 15, châu Âu vô cùng sôi động với các hoạt động thương mại lớn. Các nhà buôn lớn với mong muốn kiếm được nhiều tiền, đã thúc giục những người thủy thủ, những nhà thám hiểm đi tìm những miền đất mới để mở rộng thị trường. Đây chính là điều kiện để những con người say mê khám phá, say mê chinh phục những vùng đất mới như Columbus thực hiện mong muốn của mình. 
Thời ấy, Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia giàu có bậc nhất ở phương Đông, nơi bất cứ lái buôn châu Âu nào cũng muốn được đến để trao đổi hàng hóa. Nhưng người ta phải vượt qua rất nhiều lục địa rộng lớn, vượt qua đường đi dài hiểm trở và chỉ được phép tiến về một hướng duy nhất, hướng Đông. Một con đường mới, ngắn hơn sẽ là giải pháp tối ưu để khắc phục những điều đó.
Columbus với niềm tin chắc chắn rằng trái đất có hình tròn, đã quyết tâm đi tìm phương Đông từ một phương hướng khác, từ phía Tây. Ông khẳng định rằng con đường thuận tiện nhất và dễ dàng nhất để đi tới Nhật Bản và Đông Á là đi thuyền vượt Đại Tây Dương về hướng Tây, vòng quanh trái đất. Người thủy thủ dày dạn kinh nghiệm ấy không hề biết rằng, lục địa lớn châu Mỹ sẽ chắn đường đi của ông. 
Columbus đã kêu gọi mọi người ủng hộ, tài trợ cho chuyến thám hiểm này. Dù rất nhiều người muốn có được con đường mới ấy nhưng họ đều ngần ngại không dám tin ông. Không từ bỏ ý định, Columbus sang sống ở Tây Ban Nha và cố gắng vận động sự tài trợ của quốc gia này. Sau nhiều lần bị từ chối, cuối cùng Hoàng hậu Isabella I đã chấp thuận tài trợ cho chuyến đi đã trở thành có một không hai trong lịch sử. 
Columbus được giao phó chỉ huy ba chiếc tàu thám hiểm có tên: Nina, Pinta và Santa Maria. Thủy thủ đoàn của ông gồm có 88 người. Vào ngày 3/8/1492, Columbus dẫn đầu đoàn thám hiểm rời cảng xứ Tây Ban Nha để tiến về phía tây. Mục đích cuộc thám hiểm của Columbus là châu Á, điển hình là Ấn Ðộ và Trung Hoa, nơi được nghe nói là có vô số kho vàng, ngọc trai, kim cương và gấm vóc đang đợi chờ.
Chuyến thám hiểm của Columbus dài hơn dự tính và sau vài tháng tiếp tục lên đênh trên biển không tìm thấy đất liền, thủy thủ đoàn bắt đầu lo ngại và yêu cầu ông phải quay trở lại Tây Ban Nha. Ông đã giao hẹn với thủy thủ đoàn là nếu trong hai ngày không nhìn thấy đất liền, ông sẽ chấp nhận cho thuyền quay về. 
Ðúng hai ngày sau, vào ngày 12/10/1492, một thủy thủ trên tàu Pinta tên là Rodrigo de Triana đã thấy các chỉ dấu của đất liền. Sau khi nhìn thấy đất liền, Columbus đã đặt tên dãy đất này là San Salvador. Đó chính là vùng Bahamas nổi tiếng ngày hôm nay. Những thổ dân đầu tiên trên đảo được Columbus gọi là người Indian vì lúc đầu ông lầm tưởng mình đã đến được Ấn Ðộ. Sau đó, hòn đảo lớn hơn mà Columbus khám phá ra là đảo Cuba và đảo Haiti.
Tháng 3/1493, đoàn thuyền Columbus trở về Tây Ban Nha, ông được triều đình và nhân dân đón tiếp trọng thể, được vua phong làm Phó vương và Toàn quyền các thuộc địa ở Tân Lục Địa.
Sau chuyến đi đầu tiên, Columbus còn thực hiện 3 chuyến thám hiểm nữa. Ông đã khám phá ra hầu hết các đảo trên quần đảo Angtigua và cả bờ biển Trung Mỹ. Nhưng số vàng bạc của cải ông mang về cho vua Tây Ban Nha quá ít ỏi nên không được trọng vọng. Ngày 20/5/1506, ông mất tại một thành phố nhỏ ở miền bắc Tây Ban Nha trong sự nghèo khổ và lãng quên.
Tuy Columbus tới được châu Mỹ do sự tình cờ bởi chủ đích của ông là đi tìm một con đường biển để tới châu Á, và cho tới ngày qua đời, Columbus vẫn tin rằng mình đã đạt được mục tiêu. Nhưng dù xảy ra sự nhầm lẫn đó, người đời sau vẫn tôn vinh Columbus là một trong những nhà hàng hải lớn nhất. Thế giới sẽ không phải là như hiện tại nếu không có những khám phá vĩ đại của ông.
Columbus đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho lịch sử châu Âu, đồng thời mở ra trang sử mới cho châu Mỹ. Từ phát hiện rất tình cờ của Columbus, một kỷ nguyên xâm chiếm và khai phá vùng đất mới bắt đầu. Mọi vấn đề khó khăn của châu Âu lúc bấy giờ đã được giải quyết. Vấn đề dân số ngày càng tăng không còn đáng lo ngại; nguồn nguyên vật liệu, khoáng sản giàu có của châu Mỹ cũng khiến nền kinh tế châu Âu thay đổi lớn. Bên cạnh đó, sự thành công trong việc thiết lập văn hóa Âu châu trên vùng đất mới của ông cũng là một nỗ lực đáng kể. 
Tuy không hề đặt chân lên vùng Bắc Mỹ, Columbus vẫn được người dân nước Mỹ ghi nhớ hàng năm vào ngày 12/10, đánh dấu ngày châu Mỹ đã được khám phá. Ngày tưởng niệm Columbus cũng được tổ chức hàng năm tại Tây Ban Nha. 
Hành trình của Columbus là cuộc phiêu lưu thật sự của một con người thật sự, đã trở thành đề tài cho vô số các giả tưởng, nhân vật của huyền thoại và lịch sử, không phải của một quốc gia, mà của châu Mỹ. Columbus là biểu tượng của óc tưởng tượng với một ý chí thực hiện mộng tưởng quyết liệt và thành công.


Giải mã bí ẩn trong việc xây dựng Tử Cấm Thành

Để vận chuyển những tảng đá có khối lượng lên tới 330 tấn trong quá trình xây dựng Tử Cấm Thành, người Trung Quốc xưa đã áp dụng nhiều biện pháp độc đáo.
Tử Cấm Thành, thuộc trung tâm Bắc Kinh, là cung điện của hai triều đại phong kiến Trung Quốc thời nhà Minh và nhà Thanh. Người xưa xây dựng nó từ thế kỷ 15 và 16 bằng những tảng đá khổng lồ. Thậm chí nhiều tảng đá có khối lượng hơn 330 tấn.

Trong lịch sử ngành cơ khí, người Trung Quốc sử dụng bánh xe từ 1.500 năm trước Công nguyên. Vì vậy các nhà khoa học trước đây cho rằng công nhân vận chuyển những tảng đá khổng lồ bằng bánh xe.

Nhiều khối đá trong Tử Cấm Thành có khối lượng lên tới 330 tấn. Ảnh: blogspot.com
Sau khi nhóm chuyên gia của Đại học Princeton tại Mỹ nghiên cứu một bản thảo cổ 500 năm trước, họ phát hiện ra rằng công nhân vận chuyển một phiến đá có khối lượng 120 tấn, chiều dài 9,5 m trên một con đường băng 70 km bằng những chiếc xe trượt không có bánh suốt 28 ngày trong mùa đông năm 1557, Natureworldnews cho hay.

Tài liệu cổ còn cho thấy công nhân xây dựng thường đào các giếng sâu cách đều nhau dọc con đường nhân tạo để lấy nước. Họ dùng nước những chiếc giếng này đổ lên mặt đường để tạo thành lớp băng trên bề mặt vào mùa đông cũng như khiến đường trơn trượt hơn vào những mùa khác trong năm, giúp cho chiếc xe trượt chở đá di chuyển dễ dàng.

“Con đường dành cho hoạt động vận chuyển khá gập ghềnh. Bằng cách sử dụng nước để bôi trơn, người xưa có thể làm giảm đáng kể số lượng người trong việc vận chuyển những tảng đá nặng.  Chúng tôi ước tính họ chỉ cần 300 người để kéo, ít hơn nhiều so với 1.500 người nếu kéo trên đường khô”, kỹ sư Howard Stone của từ Đại học Princeton nói. Theo Stone, với kỹ thuật ấy, người xưa đã tận dụng đầy đủ các thuộc tính tự nhiên của băng đá, chẳng hạn như độ cứng, độ phẳng, ma sát thấp khi đổ nước bôi trơn.



Quỳnh Trang - zing.vn

10 nơi bí ẩn như Tam Giác Quỷ (kỳ 1)

Giống như Tam Giác Quỷ ở phía tây Đại Tây Dương, nhiều vụ mất tích bí ẩn từng xảy ra ở hồ Anjikuni ở Canada, Biển Quỷ của Nhật Bản và núi Mê Tín ở Mỹ.
Toàn bộ dân trong một làng gần hồ biến mất

Anjikuni là tên một hồ ở vùng Kivalliq thuộc Canada. Vào một ngày trong tháng 11/1930, Joe Lebelle, một người chuyên săn động vật bằng bẫy, vào làng của người Inuit gần đó để xin ngủ nhờ. Nhưng khi tới nơi, anh phát hiện cảnh tượng kinh hoàng. Toàn bộ người dân trong làng đã biến mất. Nhưng mọi thứ khác, bao gồm thực phẩm và súng, vẫn ở nguyên vị trí.

Thổ dân Inuit bên hồ Anjikuni. Ảnh: blogspot.com
Joe báo chính quyền, đồng thời tự điều tra vụ việc. Người ta phát hiện ít nhất một mộ trong khu nghĩa địa của làng không còn nguyên vẹn. Thi thể trong mộ biến mất và những dấu hiệu cho thấy động vật không phải là thủ phạm lấy xác. Ngoài ra, ở vị trí cách làng khoảng 90 m, các nhà điều tra thấy xác của 7 con chó kéo xe. Chúng chết đói dù các kho thực phẩm vẫn mở.

Thảm họa nào đã giáng xuống người dân trong làng? Giới nghiên cứu đưa ra nhiều giả thuyết về thủ phạm - bao gồm sinh vật ngoài hành tinh, ma và thậm chí ma cà rồng. Tuy nhiên, ngày nay, sự biến mất của làng giữa hồ Anjikuni vẫn là điều bí ẩn.

Biển Quỷ

Nằm gần bờ biển Nhật Bản, Biển Quỷ (hay Tam giác Rồng) là một khu vực xung quanh đảo Miyake thuộc Thái Bình Dương. Nhiều hiện tượng kỳ lạ từng xảy ra tại đây - bao gồm sự xuất hiện của những vật thể và ánh sáng lạ, sự biến mất của con người. Giới chức ngành thủy sản Nhật Bản coi Biển Quỷ là khu vực nguy hiểm.

Theo một câu chuyện, vào năm 1952, chính phủ Nhật Bản phái một tàu nghiên cứu mang tên Kaio Maru 5 tới Biển Quỷ để điều tra những vụ mất tích bí ẩn. Nhưng tàu và toàn bộ 31 người trên đó không bao giờ trở về. Một số tài liệu khác cho thấy Hốt Tất Liệt, Đại hãn thứ 5 của Mông Cổ và cũng là người sáng lập nhà Nguyên ở Trung Quốc, từng vượt Biển Quỷ để xâm lược Nhật Bản. Nỗ lực đó khiến ít nhất 40.000 lính Mông Cổ mất mạng.

Nhiều giả thuyết đã ra đời để giải thích cho những hiện tượng bí ẩn ở Biển Quỷ. Người ta cho rằng những hiện tượng ấy xuất hiện do sinh vật ngoài trái đất, những cổng dẫn tới một vụ trụ khác. Thậm chí một số người còn nghi hoạt động của núi lửa trên đảo là nguyên nhân khiến nhiều người mất tích. Theo họ, tàu Kaio Maru 5 chìm xuống biển do nó ra khơi đúng lúc núi lửa hoạt động.
Núi Mê Tín tại Mỹ
Supertition (mê tín) là tên một dãy núi ở phía đông thành phố Phoenix, bang Arizona, Mỹ. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ 19, một người đàn ông mang tên Jacob Waltz phát hiện một mỏ vàng lớn trong núi. Ông giữ kín thông tin về mỏ vàng tới khi hấp hối. Không ai biết Jacob tiết lộ thông tin về mỏ vàng cho người nào hay không, nhưng sau đó mỏ vàng vẫn là một bí ẩn. Rất nhiều người đã lên núi Mê Tín để tìm nó, nhưng họ đều mất tích. Một số người nói linh hồn của những kẻ tìm vàng vẫn còn ám dãy núi.
Một núi trong dãy Supertition. Ảnh: blogspot.com
Một núi trong dãy Supertition. Ảnh: blogspot.com
Thổ dân Mỹ tin rằng những sinh vật mang tên Tuar-Tums (nghĩa là ''Người bé nhỏ") canh gác mỏ vàng. Chúng sống trong những hang và đường hầm bên dưới dãy núi. Một số thổ dân Apache khẳng định đường tới địa ngục nằm trên dãy núi.

10 phụ nữ quyền lực nhất thời phong kiến Trung Quốc (kỳ 1)

Võ Tắc Thiên là hoàng đế nữ duy nhất trong lịch sử Trung Quốc, còn Thái hậu Lý Trang dạy bảo hai hoàng đế nhà Thanh và biến họ thành minh quân.

1. Võ Tắc Thiên, nhà Đường

Hoàng hậu Võ Tắc Thiên trong một phim của Trung Quốc. Ảnh: qulishi.com
Võ Tắc Thiên (624-705), hoàng hậu của Hoàng đế Đường Cao Tông, là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử phong kiến Trung Quốc. Bà cũng là người lên ngôi ở độ tuổi lớn nhất (67 tuổi) và là một trong những hoàng đế thọ nhất (82 tuổi). Giới học giả đánh giá Võ Tắc Thiên là nữ chính trị gia, chiến lược gia kiệt xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế, chính trị, văn hóa thời Đường phát triển thịnh vượng.
Vào cung từ năm 14 tuổi, Võ Tắc Thiên xuất thân từ một tài nhân, sau xưng đế "Tắc Thiên Đại Thánh Hoàng đế". Bà ghi dấu ấn trong lịch sử bằng việc ổn định biên cương, đóng góp cho nền kinh tế cũng như triều chính thời bấy giờ. 
Nữ hoàng đế thúc đẩy nông nghiệp phát triển, dạy nông dân trồng trọt, quản lý đất đai, khiến nông dân trồng cấy thuận lợi, thương nhân và  nghề thủ công phát đạt, xã hội ổn định, an ninh vững vàng. Mức tăng trưởng kinh tế trung bình của Trung Hoa dưới thời Võ Tắc Thiên là 0,7%, một con số cao của thời cổ đại.
Người ta cũng đánh giá cao Võ Tắc Thiên vì cách dùng người và góp công cho nền văn hóa đời Đường phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, bà cũng để lại nhiều tiếng xấu trong dân gian với việc lộng hành và giết hại những người vô tội.
2.  Thái hậu Lý Trang, nhà Thanh
a
Nhân vật Lý Trang trong một bộ phim của  Trung Quốc. Ảnh: qulishi.com
Hoàng hậu Lý Trang (1613-1688), trải qua ba đời hoàng đế, giúp lập nên hai đời, được ca ngợi bởi tài năng và sự đức độ, nhân từ, không buông rèm nhiếp chính và âm thầm, cần mẫn trợ giúp các hoàng đế Thuận Trị, Khang Hy trị vì đất nước.
Hoàng đế Sùng Đức - Hoàng Thái Cực - mắc bệnh qua đời khi chưa chọn được thái tử, đẩy triều đình vào cảnh tranh quyền đoạt ngôi. Theo sự điều đình sắp đặt hợp lý của Lý Trang, con đẻ của bà lên ngôi và trở thành hoàng đế Thuận Trị khi mới 6 tuổi. Tuy Thuận Trị không thật sự chăm chỉ nhưng dưới sự đốc thúc của thái hậu Lý Trang, hoàng đế cũng học hành thành tài và có những đóng góp lớn cho việc triều chính. 
Tuy nhiên, Thuận Trị mất sớm. Trong số các hoàng tôn, thái hậu Lý Trang lựa chọn người kế vị là Huyền Diệp, tức hoàng đế Khang Hy. Một lần nữa, bà lại đảm nhiệm nhiệm vụ nặng nề là dạy bảo, giáo dưỡng một hoàng đế trẻ.
Sau này, Khang Hy trở thành một trong những hoàng đế tài năng và kiệt xuất nhất của nhà Thanh cũng như lịch sử phong kiến Trung Quốc. Dưới triều Khang Hy, xã hội Trung Quốc cũng phồn vinh, ổn định, thịnh vượng và là thời đại hoàng kim.
3. Tiêu Xước, hoàng hậu của Liêu Cảnh Tông
a
Ảnh: qulishi.com
Tiêu Xước (953-1009), nữ thống soái quân sự và chính trị gia nhà Liêu, triều đại phong kiến do người Khiết Đan lập nên trong lịch sử Trung Quốc, đối đầu với triều Tống ở phía nam trong thời gian dài. Vì hoàng đế Liêu Cảnh Tôn đau yếu thường xuyên, Tiêu hoàng hậu thường phải phụ giúp việc triều chính. Khi chồng qua đời, Tiêu Xước mới 30 tuổi. Bà ổn định tình hình triều chính để giúp hoàng đế mới 12 tuổi. Năm 1004, bà ký hiệp ước hòa bình Tống - Khiết Đan. Tới năm 1009, bà trả lại quyền triều chính cho con trai. 
Dưới sự điều hành của Tiêu Xước, triều đình nhà Liêu tiến vào giai đoạn huy hoàng, thịnh vượng nhất trong lịch sử 200 năm của vương triều. Bà chuyển nhà nước Liêu từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến và hóa giải xung đột liên miên với nhà Tống. 
Người ta đánh giá cao thái hậu Tiêu vì thưởng phạt phân minh, lắng nghe ý kiến đúng đắn. Bà có quan điểm "dùng người thì không nghi ngờ, nếu nghi ngờ thì không sử dụng". Nhờ đó mà bà xây dựng đội ngũ quần thần và quân đội hùng hậu. Thời của Tiêu thái hậu góp phần chuẩn bị bước đệm cho sự phát triển thịnh vượng về kinh tế, thương nghiệp và chính trị cho thời Minh, Thanh.
4. Lữ Trĩ, hoàng hậu của Hán Cao Tổ
a
Ảnh: qulishi.com
Lữ Trĩ (241-180 trước Công nguyên), là người phụ nữ nắm thực quyền triều chính đầu tiên trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, cai trị nhà Hán trong 16 năm và là người phụ nữ duy nhất được ghi vào cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên. Lữ hậu giúp Lưu Bang, Hán Cao Tổ, dẹp yên nhiều nước chư hầu. Sau khi Lưu Bang qua đời, Lữ hậu nắm quyền triều chính và thể hiện xuất sắc vai trò và khí chất của người an bang trị quốc. Bà kế thừa tư tưởng của Lưu Bang chăm lo cho dân để khôi phục kinh tế, trị mà không trị, từ đó khuyến khích sản xuất, sửa đổi luật lệ của nhà Hán, cổ vũ hoạt động kinh tế và thương nghiệp. 
5. Đậu Y Phòng, hoàng hậu của Hán Văn Đế
a
Ảnh: qulishi.com
Đậu Y Phòng (205-129 trước Công nguyên), xuất thân từ thường dân rồi trở thành cung nữ, sau trở thành người phụ nữ xuất sắc, phò trợ ba đời hoàng đế trị vì giang sơn Đại Hán. Dưới sự điều hành của bà, nhà Tây Hán tiếp tục kế thừa tư tưởng của thời Lưu Bang, trở thành triều đại đỉnh cao của thịnh vượng. 

10 nhân vật lịch sử giàu có nhất mọi thời đại - P2

6. William the Conqueror

William the Conqueror cai trị đế chế châu Âu trong hai thập kỷ. Tài sản của ông được xây dựng không phải dựa trên kinh doanh và đầu tư mà chủ yếu thông qua việc chinh phục các vương quốc láng giềng yếu thế hơn. Đến khi qua đời, William có mức tài sản ròng điều chỉnh là 230 tỷ USD. Tuy nhiên, khối tài sản này đã được phân chia cho các con trai của ông và sau đó bị phân tán.
7. Muammar Gaddafi Nếu không được biết đến là Đại tá Gaddafi, Muammar là nhà cách mạng nổi tiếng cai trị Libya trong hơn 40 năm, lần đầu lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính cuối những năm 1960. Trong suốt thời gian cai trị Libya, khối tài sản của ông tăng chậm nhưng đều đặn. Tại thời điểm qua đời, giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt mức 200 tỷ USD.

7. Muammar Gaddafi

Muammar Gaddafi là nhà độc tài nổi tiếng cai trị Libya trong hơn 40 năm, khi nắm quyền từ cuộc đảo chính vào cuối những năm 1960. Trong suốt thời gian cai trị Libya, nhà độc tài này tích luỹ được số tài sản khổng lồ. Cho đến khi qua đời, giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt mức 200 tỷ USD.
8. Henry Ford Công ty ô tô Ford với nhà sáng lập Henry Ford vẫn là một trong những nhà sản xuất ô tô phổ biến nhất ngày nay với hàng loạt xe bán tải F - 150 là loại xe tải bán chạy nhất ở Mỹ trong nhiều thập kỷ. Henry Ford đã xây dựng khối tài sản của mình không chỉ bởi vì công ty sản xuất ra những chiếc xe hơi tốt (khởi đầu với Model T) mà còn vì công ty tận dụng sản xuất nhanh thông qua các dây chuyền lắp ráp và giảm giá xe cộ. Khi Ford qua đời ở tuổi 83, mức giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt 188 tỷ USD, vừa đủ vượt qua Vanderbilt.

8. Henry Ford

Công ty ô tô Ford với nhà sáng lập Henry Ford vẫn là một trong những nhà sản xuất ô tô phổ biến nhất ngày nay, với hàng loạt xe bán tải F - 150 (loại xe tải bán chạy nhất ở Mỹ trong nhiều thập kỷ). Henry Ford đã xây dựng khối tài sản của mình không chỉ bởi công ty sản xuất ra những chiếc xe hơi tốt (khởi đầu với Model T) mà còn vì sản xuất nhanh thông qua các dây chuyền lắp ráp và giảm giá xe. Khi Ford qua đời ở tuổi 83, mức giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt 188 tỷ USD, vừa đủ vượt qua người xếp thứ 9 trong danh sách là Vanderbilt.
9. Cornelius Vanderbilt Nếu không được biết là Đại tá hải quân, Cornelius Vanderbilt là một trong những nhà công nghiệp nổi tiếng giàu có nhất lịch sử nước Mỹ. Nhìn chung, tài sản của Vanderbilt đạt đỉnh điểm ở mức 185 tỷ USD khi điều chỉnh sang đô la hiện nay. Ông kiếm tiền từ nhiều nguồn khác nhau nhưng hầu hết là từ doanh nghiệp vận chuyển. Sau khi kiếm được lượng tiền khổng lồ, Vanderbilt đã đầu tư mạnh vào đường sắt khiến tài sản của ông tăng vọt lên 185 tỷ USD.

9. Cornelius Vanderbilt

Cornelius Vanderbilt vừa là đại tá hải quân, vừa là một trong những nhà công nghiệp nổi tiếng giàu có nhất lịch sử nước Mỹ. Đã có lúc, tài sản của Vanderbilt đạt đỉnh điểm ở mức 185 tỷ USD, phần lớn là nhờ doanh nghiệp vận tải. Sau khi kiếm được lượng tiền khổng lồ, Vanderbilt đã đầu tư mạnh vào đường sắt khiến tài sản của ông tăng vọt lên 185 tỷ USD.
10. John Jacob Astor John Jacob Astor là một người Mỹ gốc Đức. Ông sống cuộc sống của một doanh nhân, thương nhân và nhà đầu tư. Điều đáng chú ý nhất vè Astor là ông là triệu phú đầu tiên từng sống ở Hoa Kỳ. Astor sống những năm đầu là đi lại, chuyển từ Đức sang Anh và cuối cùng là Mỹ, nơi ông xây dựng cả kinh doanh lông thú và đế chế bất động sản. Giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt 121 tỷ USD theo đô la hiện nay.

10. John Jacob Astor

John Jacob Astor là một người Mỹ gốc Đức. Ông sống cuộc sống của một doanh nhân, thương nhân và nhà đầu tư. Cả cuộc đời của doanh nhân này gắn với việc di chuyển, ban đầu là Đức, sau đó đến Anh và cuối cùng là Mỹ - nơi ông đã xây dựng nghiệp kinh doanh từ lông thú và phát triển đế chế bất động sản. Giá trị tài sản ròng điều chỉnh của ông đạt 121 tỷ USD.


Phạm Hiền - zing.vn

10 nhân vật lịch sử giàu có nhất mọi thời đại - P1

Với tổng tài sản ròng đạt mức hàng trăm tỷ USD, những nhân vật lịch sử dưới đây lọt danh sách người giàu có nhất trong lịch sử.

1. Mansa Musa I

Mansa Musa I, người trị vì đất nước Mali, châu Phi được trao danh hiệu người giàu có số một thế giới. Ông đã tích lũy được khối tài sản khổng lồ từ sản xuất vàng và muối. Ước tính giá trị tài sản ròng đã được điều chỉnh theo lạm phát của Mansa Musa I là hơn 410 tỷ USD.

2. John D.Rockefeller John D. Rockefeller là người Mỹ giàu có nhất từng sống. Ông đã đạt được sự giàu có trong thị trường dầu mỏ nửa sau những năm 1800, cuối cùng thành lập công ty dầu mỏ của riêng mình. Đúng thời điểm đó, nhu cầu về xăng dầu chỉ tăng đã làm giàu cho Rockefeller. Ông giàu đến nỗi ông đã để lại việc kinh doanh để sống ẩn dật trong nửa cuối quãng đời. Trong suốt quãng đời này, ông đã quyên góp phần lớn tiền của mình cho các trường học và bệnh viện, thành lập Đại học Chicago: ông nổi tiếng là người đầu tiên tại Mỹ đạt mức giá trị ròng một tỷ USD. Tuy nhiên, con số này cũng chỉ là một phần nhỏ (nếu có) trong số 400 tỷ USD giá trị tài sản ròng đã được điều chỉnh của ông.

2. John D.Rockefeller John

D. Rockefeller là người Mỹ giàu có nhất trong các tỷ phú. Ông giàu lên từ dầu mỏ từ nửa sau những năm 1880, sau đó tự lập công ty của mình, chuyên chế biến các sản phẩm về nhiên liệu này. Thời điểm đó, nhu cầu về xăng dầu tăng lên giúp cho D. Rockefeller giàu có hơn, đến nỗi, ông gác hết lại việc kinh doanh, và chọn cách sống ẩn dật trong suốt nửa cuối cuộc đời. Thời gian này, ông dành phần lớn tiền của mình cho các trường học và bệnh viện, thành lập Đại học Chicago. D. Rockefeller  cũng nổi tiếng là người đầu tiên tại Mỹ đạt mức giá trị ròng một tỷ USD. Tuy nhiên, con số này cũng chỉ là một phần nhỏ trong số 400 tỷ USD giá trị tài sản ròng (đã được điều chỉnh).
3. Gia đình Rothschild  Gia đình đến từ Frankfurt, Đức này đã thiết lập một doanh nghiệp ngân hàng nhanh chóng vượt qua những doanh nghiệp ngân hàng khác về mặt tài sản. Hiện nay, sự giàu có và danh tiếng của gia đình Rothschild không chỉ là trước kia, họ vẫn đang là những gia đình giàu có nhất thế giới hiện nay. Tài sản ròng đã điều chỉnh của họ đạt đỉnh điểm là 350 tỷ USD.

3. Gia đình Rothschild

Tài sản ròng của gia đình đến từ Frankfurt, Đức có lúc đạt đỉnh điểm 350 tỷ USD. Là một tập đoàn tài chính ngân hàng, tài sản của gia đình này nhanh chóng đạt tới những con số khổng lồ. Hiện nay, Rothschild vẫn nằm trong danh sách những gia đình giàu có nhất thế giới.
4. Andrew Carnegie Sinh năm 1835 tại Scotland, Andrew Carnegie đã đi xuyên qua Đại Tây Dương đến Pittsburgh, Pennsylvania khi còn nhỏ. Sau nhiều thập kỷ làm việc chăm chỉ, Carnegie đã đi từ thấp lên cao, trở thành ông chủ của nhà máy thép Carnegie và là một trong những người giàu có nhất đất nước. Tại thời điểm ông qua đời ở tuổi 83, giá trị tài sản ròng của ông lên tới 320 tỷ USD. Rất có thể giá trị tài sản thực của ông còn nhiều hơn thế vì ông đã quyên góp rất nhiều của cải của mình cho các trường học, thư viện, bảo tàng.

4. Andrew Carnegie

Sinh năm 1835 tại Scotland, Andrew Carnegie đã đi xuyên qua Đại Tây Dương đến Pittsburgh, Pennsylvania khi còn nhỏ. Sau nhiều thập kỷ làm việc chăm chỉ, Carnegie trở thành ông chủ của nhà máy thép Carnegie và là một trong những người giàu có nhất đất nước. Khi qua đời ở tuổi 83, giá trị tài sản ròng của ông lên tới 320 tỷ USD (theo giá hiện nay). Có thể giá trị tài sản thực của ông còn nhiều hơn thế vì ông quyên góp rất nhiều của cải cho các trường học, thư viện, bảo tàng.
5. Osman Ali Khan, Asaff Jah VII Osman Ali Khan đã cai trị một phần Ấn Độ được biết là Hyderabad trong gần 40 năm từ năm 1911 đến 1948. Ông là vị vua cuối cùng của nước này, nhưng cuối cùng Hyderabad lại trở thành một phần của Ấn Độ khi Ấn Độ giành được độc lập từ đế quốc Anh, phần lớn là do phong trào phản khán không bạo động của Gandhi. Tuy nhiên, ngay cả khi Hyderabad trở thành một phần của Ấn Độ, ông vẫn nổi tiếng là người giàu có nhất trên toàn thế giới. Nguồn tài sản của ông khá đa dạng gồm vàng trị giá hàng trăm triệu đô la và những đồ trang sức trị giá gần hàng tỷ. Ông sở hữu những ngôi nhà xinh đẹp đắt đỏ cùng những chiếc xe hơi sang trọng. Tại thời điểm qua đời, giá trị tài sản điều chỉnh của ông lên tới xấp xỉ 240 tỷ USD.

5. Osman Ali Khan, Asaff Jah VII

Osman Ali Khan cai trị một phần Ấn Độ trong gần 40 năm, từ 1911 đến 1948. Ông là vị vua cuối cùng của nước Hyderabad - sau đó trở thành một phần của Ấn Độ khi quốc gia này giành độc lập từ đế quốc Anh. Tuy nhiên, ngay cả khi Hyderabad trở thành một phần của Ấn Độ, ông vẫn nổi tiếng là người giàu có nhất trên toàn thế giới. Nguồn tài sản của ông khá đa dạng, gồm nhà cửa, xe cộ, vàng bạc... Khi qua đời, giá trị tài sản điều chỉnh của ông lên tới xấp xỉ 240 tỷ USD.


Phạm Hiền - zing.vn

Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại

Khoảng 100 triệu người bỏ mạng vì xung đột giữa thổ dân và người châu Âu trên lục địa châu Mỹ, trong khi chừng 60 triệu người chết vì các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ.


Nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương bắt đầu từ thế kỷ 16, đạt đỉnh thế kỷ 17, rơi vào thoái trào và chấm dứt vào thế kỷ 19 Nó bùng phát do nhu cầu thiết lập và khẳng định sự hùng mạnh của các đế chế tại châu Âu trong thế giới mới. Những người châu Âu và châu Mỹ chủ yếu sử dụng các nô lệ Tây Phi để làm việc trong các đồn điền. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều giả thuyết về số nô lệ tử vong trong thời kỳ này. Tuy nhiên, con số 15 triệu người phần nào phản ánh mức độ khốc liệt của nạn buôn người. Theo thống kê của họ, 4/10 nô lệ phục vụ trên tàu thiệt mạng vì chủ nô ngược đãi.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Hơn 30 triệu người chết trong thời kỳ chuyển giao quyền lực cuối nhà Nguyên, đầu nhà Minh. Khả hãn Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát Tư Hãn, là người lập ra triều đại nhà Nguyên năm 1260. Tuy nhiên, đây là một trong số những triều đại ngắn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó tồn tại gần một thế kỷ, từ năm 1271 tới 1368. Trong suốt thời kỳ ấy, dân chúng phải hứng chịu nhiều nỗi thống khổ. Họ phải sống trong loạn lạc, chiến tranh và nạn đói. Sau đó, nhà Minh đoạt quyền lực từ nhà Nguyên.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Hơn 36 triệu người chết trong cuộc binh biến An Lộc Sơn ở Trung Quốc. Khoảng 500 năm trước khi nhà Nguyên ra đời, nhà Đường thống trị Trung Quốc. An Lộc Sơn, một võ tướng thống lĩnh quân đội phía bắc, tạo phản và lập ra nhà An. Cuộc binh biến An Lộc Sơn kéo dài từ năm 755 tới năm 763. Cuối cùng nhà Đường cũng đánh bại nhà An, thống nhất giang sơn.

Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Trong lịch sử thế giới, Thành Cát Tư Hãn là một trong những người "nhuốm máu thiên hạ" nhiều nhất. Dưới sự lãnh đạo của ông, đế chế Mông Cổ đã phát triển lớn mạnh chưa từng thấy. Diện tích đất của đế chế Mông Cổ chiếm 16% diện tích bề mặt trái đất. Quân đội Mông Cổ tràn qua châu Á, cướp phá và giết người tàn bạo. Theo các nhà nghiên cứu, khoảng 60 triệu người đã bỏ mạng trong các cuộc xâm lược của quân Mông Cổ. Con số ấy có thể tăng cao hơn nếu đội quân của Thành Cát Tư Hãn hướng sang phía tây để xâm lược các nước châu Âu.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Đại chiến thế giới thứ nhất là sự kiện tiếp nối chuỗi những vụ việc đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới. Trong cuộc chiến, khoảng 65 triệu người đã mất mạng. Vào năm 1914, thời điểm các đế chế tại châu Âu bắt đầu khẳng định tầm ảnh hưởng, họ chia thành hai phe và gây chiến để tranh giành sự thống trị. Cuộc chiến đã chia cắt châu Âu và kéo phần còn lại của thế giới vào vòng xoáy chiến tranh. Chiến thuật chiến tranh lỗi thời làm gia tăng số lượng binh lính tử trận.
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra vào năm 1939. Các thế lực chia thành hai phe, tự xưng là phe Đồng minh và phe Phát xít. Trong giai đoạn giữa Đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, các nước đã chế tạo nhiều cỗ máy giết người trên không, dưới biển và phát triển các loại phương tiện chiến đấu hạng nặng hay vũ khí tự động. Một số quốc gia còn sản xuất các loại bom lớn để phục vụ cuộc chiến. Phe Đồng minh giành thắng lợi sau cùng. Tuy nhiên họ cũng phải trả một giá đắt. 85 % trong tổng số 72 triệu người thiệt mạng thuộc về phe Đồng minh. Liên Xô và Trung Quốc hứng chịu tổn thất nặng nề nhất. 
Những thời kỳ đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại
Khi Christopher Columbus, John Cabot cùng các nhà thám hiểm khác phát hiện châu Mỹ ở thế kỷ 15, đó dường như là khởi đầu của một kỷ nguyên. Châu Mỹ trở thành thiên đường mà các nhà thám hiểm châu Âu gọi là ngôi nhà mới của họ. Tuy nhiên, vùng đất này không phải mảnh đất vô chủ bởi thổ dân bản địa đã sinh sống tại đây. Cuộc xung đột giữa "chủ mới" và "chủ cũ" đã khiến khoảng 100 triệu người thiệt mạng. Bên cạnh chiến tranh và các cuộc xâm chiếm, các căn bệnh lan từ châu Âu cũng cướp sinh mạng của vô số người dân bản địa. Theo ước tính của giới học giả, 80 % thổ dân châu Mỹ chết do tiếp xúc với người châu Âu nhiễm bệnh.
Nguyễn Thái
Ảnh: history.com

Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại

Xe tăng ra đời trong Thế chiến I và nhanh chóng trở thành loại vũ khí chủ lực trên chiến trường trong chiến tranh hiện đại.

Mark IV của Anh


Xe tăng Mark IV của Anh.
Sự ra đời của xe tăng Mark IV tạo ra cuộc cách mạng trên chiến trường nhờ khả năng hoạt động ưu việt của động cơ cùng hỏa lực mạnh. Mark IV thừa hưởng mọi thành tựu của quá trình nghiên cứu và phát triển xe tăng của Anh trong Thế chiến I. 
Mark I là cỗ xe tăng đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, nó hoạt động kém và thường xuyên hỏng. Anh tiếp tục phát triển những chiếc Mark II và III nhưng chúng cũng không thực sự tạo dấu ấn. Cuối cùng, nhà sản xuất cải tiến động cơ và hệ thống truyền lực, giúp Mark IV trở thành vũ khí hiệu quả trên các chiến trường.
Mark IV có khối lượng 29 tấn, chiều dài 4,12 m, có khả năng chở 8 người. Chúng di chuyển với vận tốc 6,4 km/h trong phạm vi 56 km. Hệ thống súng máy gắn trên thân giúp kíp chiến đấu đáp trả và tấn công mục tiêu, tạo ra lợi thế lớn cho quân đội Anh trong Thế chiến I. Anh chế tạo 1.220 xe tăng loại này từ tháng 5/1917 tới cuối năm 1918.
Panzer II của Đức
Đây là tên thường gọi của loại xe tăng hạng nhẹ Panzerkampfwagen II mà Phát xít Đức sử dụng trong Thế chiến thứ II. Chúng ra đời nhằm lấp chỗ trống khi Đức đang tập trung phát triển loại xe tăng hiện đại và tối tân hơn nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại quân đồng minh. Tuy nhiên, Panzer II chứng minh hiệu quả trong tác chiến và mang lại cho quân Đức rất nhiều lợi thế.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Xe tăng hạng nhẹ Panzer II của Đức.
Trong cuối những năm 1930, đầu những năm 1940, Panzer II liên tục tham chiến ở Ba Lan, Pháp, Bắc Phi và vùng Đông Âu gần Xô Viết và giành nhiều thắng lợi quan trọng cho quân Đức. Dù là xe tăng hạng nhẹ với tải trọng 8,9 tấn nhưng Panzer II nhiều lần đóng vai trò chủ lực trong các trận chiến với quân đồng minh. Phát xít Đức chế tạo 1.850 xe tăng loại này trong giai đoạn 1935 đến 1943.
Panzer II chính thức bị loại khỏi biên chế chiến đấu của quân đội Đức năm 1942. Sau đó, nó trở thành xe tăng trinh sát và tiếp tục chứng minh khả năng vượt trội. Cuối cùng, người ta sử dụng Panzer II để đào tạo tân binh. Đức ngừng chế tạo Panzer II trong năm 1943 nhưng khung gầm của nó tiếp tục được sản xuất để làm nền tảng cho pháo tự hành Wespe hay tăng pháo Marder II.
Xe tăng T-34 của Liên Xô
T-34 là xe tăng hạng trung của quân đội Liên Xô, chính thức được sản xuất trong từ năm 1940. Người ta sử dụng T-34 trong cuộc chiến chống lại quân đội phát xít Đức và giành nhiều thắng lợi quan trọng. Sau đó, T-34 tiếp tục chứng minh hiệu quả trong Chiến tranh Triều Tiên và Cách mạng Hungary năm 1956, các cuộc xung đột ở Trung Đông và châu Phi, cuộc chiến chống Mỹ tại Việt Nam và Chiến tranh Bosnia.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Xe tăng T-34 của Liên Xô.
Sự ra đời của T-34 là cuộc cách mạng trong thiết kế và chế tạo xe tăng toàn cầu. Nó là loại xe tăng hiệu quả và gây ảnh hưởng nhất Thế chiến II dù nhiều mẫu xe tăng vượt trội hơn T-34 về giáp và hỏa lực. T-34 là sự kết hợp tối ưu giữa khả năng bảo vệ, tính cơ động, sức mạnh hỏa lực và độ tin cậy. Liên Xô chế tạo 84.000 chiếc xe tăng loại này.
Vũ khí chính của T-34 là pháo F-34 cỡ nòng 76,2 mm. Hai vũ khí phụ là đại liên cỡ nòng 7,62 mm. Động cơ 500 mã lực cho phép T-34 di chuyển với vận tốc 53 km/h cùng phạm vi hoạt động 400 km. Ở thời điểm hiện tại, T-34 là loại xe tăng được sử dụng lâu nhất thế giới. Một vài mẫu T-34 vẫn đang được sử dụng.
M4 Sherman của Mỹ
M4 Sherman là xe tăng nổi tiếng nhất của quân đội Mỹ, ra đời trong Thế chiến II. Nó có hỏa lực mạnh, tốc độ nhanh và độ tin cậy cao trong khi chi phí sản xuất thấp và ngắn. Trong các trận chiến với quân Đức, M4 thường giành lợi thế trên chiến trường. Nó cũng hiện diện trong nội chiến Hy Lạp, chiến tranh Ả Rập - Do Thái, Ấn Độ - Pakistan, Ả Rập - Israel và Yom Kippur.
Những xe tăng thay đổi lịch sử nhân loại
Tăng M4 Sherman của Mỹ. 
Sự ra đời của M4 Sherman giúp quân đồng minh giành lại lợi thế trên chiến trường trước quân đội Đức. M4 đóng vai trò tích cực trong trận chiến Normandy vào mùa hè năm 1944 trước khi nó lăn xích trên toàn nước Pháp. M4 Sherman liên tục đánh bại những chiếc Tiger và Panther của phát xít Đức.
M4 Sherman có chiều dài 5,84 m, rộng 2,62 m, cao 2,74 m và nặng 30,3 tấn. Nó có khả năng di chuyển với vận tốc 38,5 km/h với phạm vi 200 km. Vũ khí chính của M4 Sherman là pháo cỡ nòng 75 mm cùng hai súng phụ. Quân đội Mỹ chế tạo hơn 50.000 chiếc M4 Sherman trong khi khung sườn của nó được dùng cho các loại xe bọc thép, xe kéo pháo…


Hồng Duy
Ảnh: Wikipedia

Top